ý nghĩa của việc đọc sách
Võ Nguyên Giáp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:53' 05-04-2024
Dung lượng: 873.9 KB
Số lượt tải: 11
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:53' 05-04-2024
Dung lượng: 873.9 KB
Số lượt tải: 11
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Mục Lục
Giới thiệu
Lời giới thiệu
GIÁP của Georges Boudarel: Một cuốn sách nên đọc
Một người tên là Văn
Chàng sinh viên, thầy giáo dạy sử và người chiến sĩ cách mạng
Hoạt động du kích tại chiến khu Việt Bắc 1940 - 1945
Nhà chính khách 1945 - 1946
Chỉ huy quân đội tiến hành kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954
Nhà chiến lược đối mặt với Hoa Kỳ
Điện Biên Phủ
Những công sự kiểu Việt Nam
Gia đình, đồng chí và những người ảnh hưởng đến Võ Nguyên Giáp
Ghi nhanh vè Tướng Giáp và chiến thuật của ông
Những bức chân dung sống động
BẢNG TRA CỨU
https://thuviensach.vn
Giới thiệu
Cuốn sách này được Công ty Cổ phần Sách Thái Hà và Nhà xuất bản Thế
Giới hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tổ chức.
Trước hết chúng tôi xin chân thành cảm ơn dịch giả Nguyễn Văn Sự người đã giúp chúng tôi liên hệ để có được bản quyền tiếng Pháp của cuốn
sách và đã chuyển ngữ cuốn sách sang tiếng Việt. Chúng tôi xin gửi lời cảm
ơn đặc biệt tới gia đình và Văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp: ông Võ
Điện Biên, ông Võ Hồng Nam, Đại tá Trịnh Nguyên Huân đã giúp hiệu
đính nội dung cuốn sách. Chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn tới hai nhà sử
học: ông Alain Ruscio (Pháp) và ông Dương Trung Quốc đã viết lời giới
thiệu cho cuốn sách trong lần xuất bản tiếng Việt đầu tiên.
Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý độc giả để
cuốn sách được hoàn chỉnh hơn trong những lần in sau.
Lời giới thiệu
Đến nay, đã có nhiều cuốn sách của người nước ngoài viết về Đại tướng Võ
Nguyên Giáp, một trong những nhân vật nổi bật hàng đầu của lịch sử hiện
đại Việt Nam mà tên tuổi gắn liền với cuộc cách mạng giành độc lập dân
tộc, hai cuộc kháng chiến chống lại hai đế quốc lớn bảo vệ nền độc lập dân
tộc và thống nhất quốc gia cũng như các cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền
thiêng liêng của Tổ quốc. Đó cũng là tên tuổi gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Nhưng tác giả của cuốn
sách này lại là một người đặc biệt.
Georges Boudarel là một người đặc biệt, ông là một người Pháp nhưng lại
đứng trong hàng ngũ của những người chiến đấu chống lại nước Pháp thực
dân, cụ thể hơn là đứng trong quân ngũ của đạo quân do Tướng Giáp làm
https://thuviensach.vn
Tổng tư lệnh. Ông đến Việt Nam với tư cách là một cử nhân triết học để
dạy môn lịch sử trong một trường trung học ở Sài Gòn. Có lẽ chính từ
những tri thức lịch sử và triết lý mà nước Pháp của ông đã đề xướng “Tự do
- Bình đẳng - Bác ái”, ông đã lựa chọn như nhiều người Pháp tiến bộ sinh
sống ở Việt Nam mong muốn gìn giữ sự hòa hiếu giữa hai quốc gia sau khi
nước Việt Nam đã tuyên bố độc lập và thoát khỏi chế độ thuộc địa Pháp
giống như nước Pháp của họ thoát khỏi ách chiếm đóng của chủ nghĩa
phát-xít Đức.
Vì thế, khi cuộc chiến tranh Việt - Pháp bùng nổ (tháng 12 năm 1946), G.
Boudarel, một thành viên đã tham gia nhóm Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác, đã
lựa chọn con đường vào chiến khu của những người Việt Nam kháng chiến
để chống lại những tàn dư của chủ nghĩa thực dân. Ông tham gia cuộc
kháng chiến không bằng vũ khí sát thương mà bằng sự thức tỉnh đạo quân
viễn chinh hãy chấm dứt cuộc chiến tranh phi nghĩa mà họ đang tham dự.
Ông tham gia vào công tác binh vận bằng ngòi bút và những kiến thức về
triết học và lịch sử của mình.
Sau khi thực dân Pháp đã thảm bại ở Điện Biên Phủ, phải chấm dứt cuộc
chiến tranh xâm lược cũng là rút lui khỏi vũ đài lịch sử ở Việt Nam, G.
Boudarel vẫn ở lại Việt Nam làm việc trong lĩnh vực văn hóa đối ngoại tại
Đài Phát thành rồi Nhà xuất bản Ngoại văn và trực tiếp cộng tác với các
nhà nghiên cứu Việt Nam làm tập san Etudes Vietnamiennes.
Nếu như G. Boudarel đã có nhiều đóng góp tích cực giúp Việt Nam đánh
thắng chủ nghĩa thực dân thì ông lại không thành đạt khi ở lại Việt Nam
tham gia vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì thế, cũng đến lúc
ông phải chia tay với Việt Nam, nơi ông đã dành trọn tuổi thành xuân cho
một cuộc đấu tranh chính nghĩa không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà cho
chính cả nước Pháp Tổ quốc của ông.
Tuy rời xa mảnh đất Việt Nam, nhưng G. Boudarel vẫn dành tất cả sự nhiệt
tâm cho việc nghiên cứu và ủng hộ Việt Nam. Con người ấy vẫn giữ được
https://thuviensach.vn
phẩm chất một nhà giáo, được các đồng nghiệp Việt Nam yêu quý biến tấu
tên gọi tiếng Pháp thành tiếng Việt là “Bụt” (Boudha = Phật). Rồi cũng vì
toàn tâm gắn bó với Việt Nam mà ông đã từng bị một số phần tử cực đoan
tạo nên một vụ án bôi nhọ danh dự và vu khống rằng ông đã phản bội nước
Pháp khi cộng tác với Việt Minh. Chính những người Pháp chân chính đã
cùng ông đấu tranh vượt qua những thử thách ấy và Boudarel vẫn trọn vẹn
trung thành với tình yêu Việt Nam và công lý của mình.
Tình yêu ấy được thể hiện bằng những việc làm không biết mệt mỏi thể
hiện trong những bài khảo cứu hay những cuốn sách viết về Việt Nam của
ông mà cuốn Giáp các bạn đang có trên tay bản dịch tiếng Việt là một thành
tựu. Tên cuốn sách là một cách gọi thân mật nhưng vẫn giữ được sự trân
trọng của một người nước ngoài song lại không xa lạ đối với “người anh
Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam mà Boudarel đã từng tham gia.
Đó không chỉ là một cuốn tiểu sử, đó là một pho sử mà tên tuổi “Giáp” đã
gắn bó, cống hiến và để lại những dấu ấn rất đậm nét xuyên suốt toàn bộ
lịch sử hiện đại Việt Nam, lịch sử Giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa thực
dân trong cương vị của vị Tổng tư lệnh - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gắn
với huyền thoại từ Điện Biên Phủ (1954) cho đến “Điện Biên Phủ trên
không” (1972) rồi Chiến dịch mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (1975).
Cần nói thêm rằng, trước cuốn này, ngay từ năm 1970, giữa lúc cuộc Kháng
chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam còn đang diễn ra ác liệt,
tác phẩm Giương cao ngọn cờ chiến tranh nhân dân và đường lối quân sự
của Đảng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Nhà xuất bản Preagers
của Mỹ xuất bản và G. Boudarel đã viết lời giới thiệu với nhan đề “Chiến
tranh Đông Dương lần thứ hai - Quan sát và dự báo”.
Bằng niềm tin từ những trải nghiệm của cuộc Chiến tranh Đông Dương lần
thứ nhất, tức là cuộc Kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân
Pháp mà G. Boudarel từng tham gia, ông đã phân tích và khẳng định cuộc
Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam sẽ đi đến kết cục
https://thuviensach.vn
như trước là Mỹ không thể nào thắng được. Ông cũng tập trung phân tích
vai trò và đường lối quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn ở cương
vị Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang như cuộc chiến tranh lần trước sẽ làm
cho các tướng lĩnh Mỹ phải thất bại bởi sức mạnh của một dân tộc có
truyền thống chống ngoại xâm lại có một vị tướng tài và từng trải.
Trong quan niệm của G. Boudarel, Võ Nguyên Giáp là sự kế thừa có chọn
lựa những tư tưởng quân sự của các nhà cách mạng hiện đại như Lênin và
Mao Trạch Đông cũng như các nhà chiến lược quân sự kinh điển như
Clausewitz và Tôn Tử mặc dù khi trai trẻ, nhà giáo dạy lịch sử trẻ tuổi lại
rất say mê Napoléon. Nhưng trên hết, Võ Nguyên Giáp là sự vận dụng
trung thành với tư tưởng của Hồ Chí Minh cũng là của Đảng về Chiến tranh
nhân dân Việt Nam mà cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất là một
thành công. Vì thế, sự quan sát, phân tích và dự báo của G. Boudarel trở
nên sắc sảo và thuyết phục...
Do đó, khi G. Boudarel viết cuốn GIÁP như tiểu sử của một nhà quân sự
lớn, bên cạnh những phân tích khoa học, tác giả còn gửi gắm vào đó nhiều
tâm đắc đối với lịch sử Việt Nam hiện đại mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp
là một trong những hiện thân tiêu biểu, cái lịch sử mà chính tác giả cuốn
sách từng là “người trong cuộc”.
Tôi đã có cơ hội gặp Georges Boudarel trong những năm tháng cuối cùng
khi ông sống độc thân trong một ngôi nhà nhỏ ở Paris khiêm nhường nhưng
chất chứa đầy sách và những tư liệu quý giá về lịch sử và văn hóaViệt
Nam. Tôi và các bạn đồng nghiệp Việt Nam đã từng lên tiếng động viên,
ủng hộ khi ông bị những kẻ cực đoan bôi nhọ. Vì thế, một thập niên sau
ngày tác giả qua đời (2003), được giới thiệu cuốn sách viết về Đại tướng
Võ Nguyên Giáp, vị Chủ tịch Danh dự của Hội Sử học Việt Nam của người
đồng nghiệp đáng kính, Giáo sư sử học Georges Boudarel, đối với tôi là
một vinh dự.
Xin trân trọng giới thiệu với quý bạn đọc!
https://thuviensach.vn
Nhà sử học Dương Trung Quốc
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
https://thuviensach.vn
GIÁP của Georges Boudarel: Một
cuốn sách nên đọc
Năm 1975, chiến tranh kết thúc ở Việt Nam. Đó là cuộc chiến tranh dài
nhất, làm thiệt mạng nhiều người nhất trong thế kỷ XX, được biết đến trên
mọi châu lục, bên cạnh những cuộc chiến tranh khác. Chủ nghĩa thực dân
Pháp, rồi chủ nghĩa đế quốc Mỹ lần lượt mưu toan ngăn chặn làn sóng cách
mạng Việt Nam nhưng không thành công. Về phía Pháp, 9 tướng lĩnh cao
cấp, trong đó có những vị có nhiều kinh nghiệm nhất (từ tướng Leclerc đến
tướng Salan, không kể trước đó có d'Argenlieu, De Lattre...) lần lượt nắm
quyền chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp. Trong giai đoạn chiến tranh Mỹ
xâm lược Việt Nam, 4 tướng lĩnh, cũng là những người dày dạn kinh
nghiệm đã lần lượt thay nhau, trong đó có tướng Westmoreland và Abrams.
Tất cả đều xuất thân từ những trường quân sự nổi tiếng nhất phương Tây,
như Saint Cyr, West Point...
Đối mặt với họ, một người Việt Nam chưa từng ngồi trên ghế các trường
quân sự lớn, nhưng đã tự học chiến lược, chiến thuật trên thực địa, đó là
VÕ NGUYÊN GIÁP. Chính ông đã kể cho tôi trong những điều kiện nào
ông đã tiếp cận nghệ thuật chiến tranh: Chúng tôi không qua một trường
lớp quân sự nào. Khi còn ở Hà Nội năm 1940, các đồng chí của chúng tôi
truyền đạt nghị quyết của Đảng về chuẩn bị đấu tranh vũ trang, tôi vào Thư
viện Quốc gia tìm trong cuốn Đại từ điển Larousse những mục từ về kỹ
thuật quân sự. Tôi nhớ đã đọc mục từ “lựu đạn”. Tôi cố gắng tìm hiểu
nhưng khó quá, “lựu đạn tấn công”, “lựu đạn phòng ngự”, “hạt nổ”. Lúc đó
tôi không hiểu thế nào là “bộ phận nổ”[1].
[1] Alain Ruscio, Vo Nguyên Giap, une vie, Ed Les Indes Suivantes, 2010.
Xem thêm Võ Nguyên Giáp, Một cuộc đời, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2011, tr. 50-51.
https://thuviensach.vn
Một mình chống lại khoảng 15 sĩ quan cao cấp được đào tạo bài bản tại các
trường quân sự phương Tây! Cuộc đấu tranh xem ra không cân sức...
Đúng vậy, nhưng Võ Nguyên Giáp đâu phải chỉ có một mình! Ông có nhân
dân Việt Nam cùng kề vai sát cánh. Người Việt Nam giàu truyền thống đấu
tranh chống xâm lược nước ngoài, nhiều thế kỷ chống kẻ thù phương Bắc,
chống lại người Pháp trong thời kỳ chinh phục thuộc địa, sau đó từ năm
1945, tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, hiện thân trong hình
ảnh cao cả của Hồ Chí Minh. Với Bác Hồ, với Giáp và các bạn chiến đấu
của mình, cụm từ “chiến tranh nhân dân” không ngừng trở thành khẩu hiệu
động viên toàn thể dân tộc, được đem ra thực hiện hàng ngày. Ít nhà quan
sát người Pháp trước năm 1946, và còn ít hơn nữa các nhà quan sát người
Mỹ trước những năm 1960 có thể hiểu được điều này.
Làm sao “một dân tộc nhỏ bé” của những người nông dân mà họ gọi một
cách coi thường là “những người nhà quê” lại có thể đương đầu với vũ khí
hiện đại? Làm sao những người du kích quần áo rách rưới đi dép cao su lại
có thể đua tranh với các “ông lớn” da trắng mặc quân phục dã chiến, đi ủng
cao và được trang bị đến tận răng?
Một người bạn chiến đấu khác của Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng,
cách đây không lâu đã kể cho tôi một giai thoại sau. Năm 1946 khi ông dẫn
đầu Phái đoàn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến dự Hội nghị
Fontainebleau, Max André, người dẫn đầu Phái đoàn Pháp, đã phát biểu với
giọng trịch thượng: “Các ông hãy tỏ ra biết điều, hãy nhường Nam Kỳ cho
chúng tôi. Các ông không muốn chiến tranh đấy chứ? Nếu chẳng may chiến
tranh xảy ra, quân lính của các ông chỉ cầm cự được dăm tháng là cùng!”.
Tôi còn nhớ khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng kể lại cho tôi câu chuyện đó,
ông phá lên cười, một cái cười rất tự nhiên, cứ như ai nói đến chuyện đó
cũng phải cười như thế!
Thế mà thực dân Pháp đã bại trận. Nước Mỹ được trang bị vũ khí tối tân
nhất thế giới cũng bại trận. Đương nhiên nhân dân Việt Nam phải trả giá
https://thuviensach.vn
bằng bao nỗi đau thương, mất mát! Nhưng thực tế còn kia: chiến thắng năm
1975 đang và sẽ còn là một thời điểm quan trọng nhất của thế kỷ XX.
Cuốn sách GIÁP bằng tiếng Pháp của Boudarel ra mắt độc giả từ năm
1977, nghĩa là hai năm sau chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975 của Việt
Nam. Có lẽ đây là điều trách cứ duy nhất chúng tôi có thể dành cho nhà sử
học này. Bởi với kinh nghiệm, hiểu biết sâu sắc về con người, đất nước Việt
Nam, “tổ quốc thứ hai” của ông, thông thạo tiếng Việt, đáng lẽ Boudarel
phải viết sớm hơn thế, ngay từ trong chiến tranh mới phải. Bởi nếu thế, có
lẽ ông sẽ giúp chúng ta hiểu được nguyên nhân nào đã khiến nhân dân Việt
Nam giành được thắng lợi.
Thực vậy, cuốn sách này có lợi thế lớn hơn nhiều so các cuốn sách khác đã
viết về GIÁP sau đó: Không còn bám vào câu hỏi “Giáp và nhân dân Việt
Nam đã giành được thắng lợi như thế nào?”, nhưng Boudarel đã giải thích
“Tại sao” họ lại chiến thắng. Và muốn giải đáp được câu hỏi trên, phải tìm
hiểu lịch sử đất nước này từ rất lâu trước thế kỷ XX, điều đó Boudarel đã
nắm được và chuyển tải sang cuốn sách của ông.
Tại Pháp, cuốn sách này đã không được hoan nghênh như đáng lẽ phải có.
Tình hình biến chuyển nhanh và năm 1977, âm vang của chiến thắng 1975
của Việt Nam đã bị những sự kiện quốc tế khác che phủ. Báo chí không nói
nhiều đến công trình nghiên cứu mang tính đổi mới này. Hơn nữa, từ năm
1978, bằng chiến dịch xấu xa vu cáo Việt Nam: với những “thuyền nhân”,
rồi những khó khăn của đất nước ở biên giới Tây Nam (Khmers Đỏ đánh
phá) và phía Bắc (Trung Quốc khiêu khích), phương Tây tưởng đã đến lúc
phục thù. Chiến dịch vu cáo này đạt tới đỉnh điểm khi Việt Nam giúp giải
phóng Campuchia, rồi tiếp đó là cuộc chiến tranh biên giới ở phía Bắc. Rất
nhiều người Pháp chúng tôi trước sau kiên trì ủng hộ Việt Nam: đó là
những người cộng sản, những lực lượng tiến bộ, cả những người Công giáo
cánh tả, những hội viên Hội Hữu nghị Pháp-Việt. Georges Boudarel lúc đó
https://thuviensach.vn
tuy có cái nhìn phê phán “tổ quốc thứ hai” của ông nhưng vẫn đứng bên
cạnh chúng tôi.
Sau này người ta biết rằng bản thân Boudarel cũng là đối tượng của một
chiến dịch khá mạnh gây thù hằn của những kẻ thua trận trong lịch sử,
“những người cũ ở Đông Dương” và một phần cánh hữu của Pháp. Tôi
thuộc về những người đã bênh vực Boudarel lúc đó. Tôi còn nhớ tôi đã gặp
Boudarel trong ngôi nhà ông nghỉ hưu vào những năm cuối đời. Lúc đó sức
khỏe ông đã sa sút lắm nhưng vẫn minh mẫn, luôn đọc rất nhiều, hay hỏi
thăm tin tức về Việt Nam...
Giờ đây cuốn sách được dịch sang tiếng Việt, quả là một việc làm đáng
hoan nghênh. Bạn đọc Việt Nam ngày nay có thể tìm hiểu qua những trang
sách hết sức phong phú nhưng cô đọng, cung cấp nhiều thông tin quý giá
và bổ ích về cuộc đời của một trong những nhân vật vĩ đại của thời đại này,
Đại tướng Tổng tư lệnh VÕ NGUYÊN GIÁP.
Đây đồng thời cũng là một sự trân trọng của Việt Nam ngày nay dành cho
một trong những người bạn trung thành sáng suốt nhưng có khi bị chỉ trích
- Georges Boudarel.
Alain Ruscio, nhà sử học Pháp
Paris, tháng 11 năm 2012
https://thuviensach.vn
VÕ NGUYÊN GIÁP
Một người tên là Văn
Ngày 24 tháng 12 năm 1944, chiều muộn. Một nhóm 32 người men theo
con đường trong một góc khuất vùng rừng núi tỉnh Cao Bằng, phía cực bắc
của Việt Nam, ngay gần biên giới Việt - Trung. Đi cuối nhóm đầu tiên là
trưởng nhóm, một người tên là Văn. Hoạt động ở vùng này từ ba năm nay,
chưa bao giờ Văn có nhiều người dưới quyền đến thế, chưa bao giờ anh
dám đi giữa ban ngày ban mặt với một nhóm người trên đường như thế.
Khi quay lại để nhìn cả đội, cảnh hàng người chạy dọc theo những khúc
quanh của con đường núi khiến anh ấm lòng. Đầu đội nón bọc vải, mình
mặc quần áo chàm, chân quấn xà cạp, có thể khiến anh vui vui khi thấy
mình trông thật buồn cười. Cả đội ăn mặc giống lính dõng.
Mục tiêu của họ là gì? Đó là Phai Khắt, một đồn nhỏ. Từ hơn một năm nay,
đồn có khoảng 10 lính dõng, do một viên thiếu tá người Pháp làm chỉ huy,
có11 vài ngôi nhà tranh bên bờ suối, đối diện với một nương lúa nằm sát
trong núi. Đây là một bản Việt Minh “hoàn toàn”: toàn bộ người dân, kể cả
chức dịch đều “hoàn toàn” theo Việt Minh. Không có gì đáng lo. Người dân
đã cung cấp mọi thông tin.
17 giờ ngày 25 tháng 12, đội chìa “Giấy đi tuần” cho tên lính gác rồi đi
thẳng vào đồn, theo sau Thu Sơn mặc bộ kaki đóng giả đội sếp.
- Chúng tao đang đi tuần, quan đồn có nhà không? Thu Sơn hỏi tên lính
gác, giọng hách dịch rồi đàng hoàng tiến vào đồn. Người của anh nhanh
chóng tiếp cận nơi để súng, trong khi hai nhóm khác bao vây nhà bọn lính
ở. Lúc đó, lính địch đứa đang ăn cơm trong nhà, đứa thu dọn quần áo, đứa
quét dọn, sửa hàng rào. Thu Sơn hô lớn: “Rassemblement! Rassemblement
général! Le chef de poste revient du district!” (Tập hợp! Tập hợp! Đồn
https://thuviensach.vn
trưởng về!). Một lát sau, khi toàn bộ lính đã tập hợp trước mặt, Thu Sơn đổi
giọng:
- Chúng tôi là quân cách mạng, anh em đầu hàng sẽ không giết ai hết, giơ
tay lên!
Bị bất ngờ, không kịp trở tay, toàn bộ lính địch buộc phải đầu hàng. Giữa
lúc đó, người của tổ canh gác cách đồn 3 kilômét phóng ngựa tới báo tin
tên đồn trưởng đang đi ngựa trở về, theo sau hắn có 10 tên lính không mang
súng. Đội quyết định bắt tên đồn trưởng. Những tên lính bị bắt được đưa ra
phía sau đồn, chiến lợi phẩm được thu dọn, rồi ai nấy vào vị trí. Văn, Thu
Sơn và Hoàng Sâm nấp dưới mái hiên. Văn nói nhỏ: “Khi nó vào, tôi sẽ hô
“Giơ tay lên”, nếu nó giơ tay các đồng chí lập tức xông ra bắt sống. Có lệnh
mới được nổ súng”. Nhưng khi Văn vừa hô “Giơ tay lên” thì nhiều tiếng
súng vang lên, cả người và ngựa đều bị tiêu diệt. Do quá căm thù, không
kìm được nên một số đồng chí đã nổ súng ngay.
Việc thu dọn chiến trường được tổ chức ngay với sự giúp đỡ của nhân dân.
Tất cả những gì có thể sử dụng trong cuộc sống hàng ngày đều được để lại
cho dân làng. Những vũ khí thu được được trang bị ngay cho đội, súng kíp
giao lại cho du kích địa phương. Số súng này đủ trang bị cho nửa trung đội,
nhưng thu được rất ít đạn.
Nửa đêm hôm ấy, đội dừng chân ở một bản cách đó 15 kilômét để kiểm
điểm rút kinh nghiệm trận đánh vừa qua. Tới 3 giờ sáng ngày 26 tháng 12,
cả đội tiếp tục hành quân đến Nà Ngần, một ngôi nhà được biến thành đồn
lính, có 22 lính khố đỏ, do hai sĩ quan người Pháp chỉ huy, nằm cách đồn
Phai Khắt 25 kilômét. Đội hy vọng sẽ thu được đạn dược ở đây. Sáng sớm,
đội dừng lại. Cả đội thay quần áo, cải trang bằng những bộ quần áo lính
dõng, lính tập mới thu được ở Phai Khắt, giả làm một toán lính dõng, lính
khố đỏ đang dẫn giải “ba cộng sản” bị trói. Kịch
https://thuviensach.vn
bản có thay đổi. Khi đến cổng, Thu Sơn lại chìa giấy cho lính gác xem,
trong khi một đồng chí khác đi sau rút thuốc lá ra mời và châm lửa cho bọn
gác. Tò mò, lính gác trên chòi canh liếc nhìn:
- Lại bắt được cộng sản người Mán à?
Trong khi cuộc chuyện trò diễn ra với nhóm thứ hai, thì Thu Sơn đi thẳng
vào trong đồn. Lúc này đồn do một tên đội người Việt, nổi tiếng phản động,
chỉ huy thay cho hai sĩ quan lên tỉnh. Cũng như ở Phai Khắt, bọn lính đang
làm nhiều việc khác nhau, một số thu dọn chăn màn, một số đi rửa mặt. Tên
đội ngồi ở bàn làm việc; vũ khí vẫn còn trên giá để súng, trong đó bốn khẩu
đã bị Việt Minh lấy ngay ở lối vào. Thu Sơn chĩa khẩu tiểu liên vào tên đội.
Bất ngờ tên đội định đặt tay vào khẩu súng của hắn đặt trên bàn, nhưng
trước khi hắn có thời gian làm việc đó thì đã bị hạ. Nhóm đang nói chuyện
ở lối vào vô hiệu lính gác, bọn lính trong đồn rất hoảng hốt. Mọi việc diễn
ra rất nhanh. Ba tên lính liều chết chống cự đều bị tiêu diệt. Ba du kích
người Tày được cử đến giải thích. Tù binh rất ngạc nhiên khi thấy các nữ
chiến sĩ vai mang súng, lưng đeo đạn, nói năng lưu loát, giải thích cho họ
hiểu chủ trương chính sách của Việt Minh. Đa phần tù binh xin được trở về
quê, họ được trả lại quân trang.
Hai mươi phút sau, đội lại ra đi sau một cuộc giải thích nhanh cho dân làng
mà họ phải ngăn không cho đi theo đội.
Đến tối, toàn đội vượt qua quốc lộ 3A (Cao Bằng - Nguyên Bình) và đi vào
vùng rừng núi đá vôi Gia Bằng. Cả ngày, anh em chỉ ăn một bữa cơm,
nhưng vẫn cố gắng đi liên tục không nghỉ. Một đội viên đã tổng kết thành
một câu hài hước: “Quân cách mạng chúng tôi ăn thì mỗi ngày một bữa,
đánh thì mỗi ngày hai trận”. Đội đi cả đêm trong rừng, đến tận Lũng Dẻ,
một bản của đồng bào Mông, giữa khu du kích Thiện Thuật (tên của một
chí sĩ kháng Pháp ở đồng bằng sông Hồng khi Pháp chiếm Bắc Kỳ trong
những năm 1880). Khu du kích nằm trong một lòng chảo khá rộng, bao
quanh là những vách đá tai mèo hiểm trở, một thành trì tự nhiên thực sự.
https://thuviensach.vn
Trong mười ngày tại Lũng Dẻ, cả đội nghỉ ngơi, chấn chỉnh, củng cố lực
lượng và huấn luyện thêm. Khi xuất phát, đội được phát triển thành đại đội.
Một bộ phận nhỏ do Hoàng Văn Thái chỉ huy, phụ trách công tác tham mưu
- tình báo, đi xuống phía nam hoạt động tuyên truyền, mở rộng cơ sở. Đại
bộ phận, do Văn chỉ huy, đi lên phía bắc, hướng về đồn Đồng Mu, phải đi
qua Trung Quốc, gần Bảo Lạc, cách đường ở phía bắc Cao Bằng 100
kilômét, trong đó 60 kilômét là đường mòn hẹp và hiểm trở. Hoạt động của
Việt Minh còn yếu trong vùng địa hình hiểm trở lởm chởm đá tai mèo, rừng
núi lô nhô, giống như một vịnh Hạ Long trên cạn với đỉnh núi Pia Oắc cao
1931 mét ở phía nam. Không thể đi theo đường dễ, cũng không đi được vào
ban ngày, cả đội đi liên tục, theo nhiều điểm, có khi lại phải đi xuống thung
lũng và im lặng vượt qua những điểm gác của địch, trong tiếng trống của
lính gác đêm. Đồn Đồng Mu được xây dựng rất kiên cố trên một ngọn đồi
cao vì phải thường xuyên đối phó với bọn phỉ từ phía Trung Quốc. Quân
lính trong đồn có hơn 40 lính khố đỏ, do ba tên sĩ quan Pháp chỉ huy. Đồn
có nhiều lô cốt, tường dày có lỗ châu mai, giao thông hào và dây thép gai
bao bọc xung quanh. Không thể sử dụng cách cải trang đột nhập đồn, chỉ
còn cách vượt tường đột nhập và kêu gọi quân bên trong đầu hàng. Đội
chia thành bốn tổ, xuất phát trong đêm, leo lên đồi và vượt hàng rào dây
thép gai. Đội đang đột nhập thì bị địch hỏi:
- Ai?
Tình huống này nằm ngoài dự kiến.
- Chúng tôi là Việt Minh đến lấy súng của Tây, không đánh các anh em.
Một quả lựu đạn và một loạt đạn nổ vang. Từ 23 giờ đến 2 giờ sáng, bên
trong đồn, hai đội đã vào được và bắn nhau với địch dữ dội. Việt Minh vừa
bắn vừa hát để động viên khí thế chiến đấu và báo hiệu cho các chiến sĩ liên
lạc. Tuy nhiên, họ lại làm lộ vị trí chiến đấu, khiến quân địch tập trung hỏa
lực bắn tới. Đến rạng sáng, ban chỉ huy hạ lệnh rút khỏi đồn. Đội mất một
https://thuviensach.vn
tiểu đội trưởng, thu năm súng trường mousqueton và một số đạn, bắt bốn tù
binh. Các tù binh này khai đồn đã trong tình trạng báo động.
Một cuộc hành quân mới lại bắt đầu, mọi người vừa đi vừa nghỉ dọc đường
và ăn cơm nắm. Sau khi nghỉ ngơi, đội cẩn thận xóa mọi dấu vết nhỏ nhất,
từ những chiếc lá gói thức ăn đến hạt cơm rơi xuống đất vì chúng có thể để
lộ dấu vết. Rồi cả đội lại lên đường. Đến vùng an toàn hơn, các chiến sĩ tản
ra thành những đội nhỏ đi vào bản để tuyên truyền. Tại Nà Ngần, họ có
được thành quả đầu tiên: thu 16 súng trường và nhiều tù binh. Nhưng bây
giờ, việc cần ưu tiên là tuyên truyền. Hồ Chí Minh đã nhắc đi nhắc lại điều
này: “Chính trị trọng hơn quân sự, vũ trang tuyên truyền trọng hơn tác
chiến”.
“Một chiến thắng chỉ được 100 người biết sẽ chỉ tác động đến 100 người;
nhưng nếu ta cho 1000 người biết, thì cũng như ta đã mang về 10 chiến
thắng khác hoặc một chiến thắng lớn hơn 10 lần”. Người sau này viết lên
những dòng này chính là Văn, mà Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng
quân của ông vừa có những trận tấn công đầu tiên. Sáu tháng sau, ông được
cả thế giới biết đến với tên thật Võ Nguyên Giáp.
https://thuviensach.vn
Chàng sinh viên, thầy giáo dạy sử và
người chiến sĩ cách mạng
Sinh ở An Xá, tỉnh Quảng Bình vào năm 1910[1], Giáp lúc nhỏ sống ở một
vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển miền Trung phía bắc vĩ tuyến 17. Nơi
đây từ thế kỷ XI là bàn đạp của cuộc nam tiến không gì ngăn nổi của dân
tộc Việt Nam. Ông đã lớn lên ở một vùng đất hẹp vào bậc nhất của Việt
Nam, có những cánh đồng lúa nước kẹp giữa một bên là những cồn cát
trắng xóa mênh mông chạy dọc bờ biển và bên kia là những mỏm núi xanh
trơ trụi trong dãy Hoành Sơn uốn lượn giữa những cánh rừng rậm, nơi đây
vào mùa hè những cơn gió tây khô rát gọi là gió Lào từ lục địa Nam Á
nóng bỏng thổi ra biển.
[1] Theo xác nhận của gia đình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày
25/8/1911. (Ghi chú của Văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp - VPĐT).
Cụ bà thân sinh, những hôm không bận việc đồng áng thì cặm cụi bên
khung cửi. Còn cụ ông là một nông dân có học thức tự cày cấy ruộng nhà,
và truyền lại cho cậu bé Giáp chữ nghĩa, vốn tri thức và tình yêu quê hương
đất nước. Đối với những ai hiểu biết thì mỗi tấc đất ở đây đều mang một
chứng tích lịch sử. Phía bắc tỉnh là động Phong Nha sâu hút, thu hút nhiều
khách hành hương đến cầu nguyện trước một bàn thờ còn sót lại của người
Chăm, bên cạnh những nhũ đá lung linh dưới ánh sáng khi mờ khi tỏ từ cửa
động rọi vào. Trên bờ biển, Đèo Ngang hùng vĩ nằm án ngữ biển, nơi đây
Bà Huyện Thanh Quan, nữ thi sĩ của thế kỷ XVIII từng ca ngợi vào một
buổi chiều tà: “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc”. Cậu bé Giáp tuy ở tuổi
ấu thơ cũng đã hiểu rằng nữ tác giả khi nói đến con cuốc cuốc là nói đến
non sông đất nước vì tiếng con chim cuốc theo âm Hán Việt đồng âm với
tiếng quốc có nghĩa là đất nước quê hương.
https://thuviensach.vn
Cách làng An Xá một quãng ngắn, còn sót lại di tích của thành lũy do nhà
quân sự kiêm thầy giáo dạy chữ Nho, Đào Duy Từ, tác giả cuốn Hổ trướng
khu cơ (Bí quyết phép dùng binh) - một cuốn sách giáo khoa dạy nghệ
thuật quân sự cho các tướng lĩnh thời bấy giờ - xây dựng vào cuối thế kỷ
XVII được người dân vùng này truyền tụng là lũy Thầy. 25 năm trước khi
cậu bé Giáp ra đời, toàn bộ vùng đất Quảng Bình này từng là địa bàn hoạt
động của nghĩa quân Cần Vương, hưởng ứng lời kêu gọi chống Pháp của
vua Hàm Nghi. Ở phía bắc, trong tỉnh kế bên cũng có một văn thân là cụ
Phan Đình Phùng đã xây dựng căn cứ kháng chiến trên núi Vụ Quang trong
mười năm và đến năm 1910, một toán nghĩa quân còn về đồng bằng quyên
góp lương thực và gây quỹ ủng hộ kháng chiến chống Tây. Nhưng sau năm
1919, dường như quá khứ vẻ vang ấy đã vĩnh viễn hết thời, không có gì
cưỡng lại được. Người ta bước vào một thời đại mới, bút lông mềm mại đã
nhường chỗ cho bút sắt vừa viết vừa phát ra tiếng cót két của hãng SergentMajor từ phương Tây đem tới.
Năm 1923, cậu bé Giáp tạm biệt cha mẹ già vào Huế, cố đô của triều đình
nhà Nguyễn xưa, cách nhà 150 kilômét, để học ở trường Quốc học. Vào
thời đó, các trường học từ bậc trung học trở lên đều đặt ở các thành phố, thị
xã và đô thị lớn, và được “chính trị hóa” một cách khác thường. Học sinh
không ồn ào, hiếu động mà rất chăm chỉ đèn sách. Ở lớp, các cô cậu im
lặng, ngồi nghiêm chỉnh nghe lời thầy giảng hay ghi ghi chép chép, chỉ còn
nghe được tiếng ruồi bay qua bay lại. Một số cố học để sau này ra làm
quan. Nhiều người khác cốt sao sau này nên người, để “cứu nước, đánh
giặc ngoại xâm”, “canh tân đất nước”. Những ý nghĩ tốt đẹp này ám ảnh
tâm trí những con người trẻ tuổi. Đi đâu cũng thấy những nhóm nhỏ ra đời
mà trong buổi lễ gia nhập, các cậu “thề đấu tranh, hy sinh đến cùng cho sự
nghiệp”.
Người ta xì xào, bàn tán về con người có sức hấp dẫn kỳ lạ mang tên
Nguyễn Ái Quốc (sau này đổi tên là Hồ Chí Minh), tác giả áng văn đả kích
nổi tiếng có tựa đề: Bản án chế độ thực dân Pháp, cùng với những người
https://thuviensach.vn
cùng chí hướng đang hoạt động tại nước Nga Xô viết. Người ta đưa cho
Giáp một bản và anh đã đọc say sưa. Báo chí thực dân đã dành toàn bộ
phương tiện tuyên truyền tốt nhất để vu cáo những người Bôn-sê-vích,
thậm chí có những người có xu hướng ôn hòa, chỉ đưa ra những đề nghị cải
cách xã hội khiêm tốn nhất cũng bị chúng gán cho cái tên Bôn-sê-vích.
Anh học trò trung học Võ Nguyên Giáp đặc biệt say mê các môn lịch sử,
địa lý và vật lý. Anh chỉ rời sách vở khi bận đến dự những cuộc thảo luận
sôi nổi về các đề tài liên quan đến lịch sử nước nhà. Khi 14, 15 tuổi đời anh
đã có những bước ngoặt có tính quyết định cả cuộc đời anh sau này.
Năm 1924, Toàn quyền Đông Dương Merlin tích cực phá hủy những gì mà
những người tiền nhiệm của ông là Albert Sarraut và Maurice Long đã
bước đầu xây dựng cho cái gọi là tự do, bác ái ở Đông Dương. Merlin chủ
trương thanh niên Đông Dương chỉ nên học đến bậc trung học rồi đi làm,
không nên học lên đại học, nhất là sang Pháp du học vì ông ta cho rằng họ
sang chính quốc sẽ bị ảnh hưởng chủ nghĩa nhân quyền tự do của nước
Pháp, sẽ trở thành những phần tử chống Pháp. Tuy nhiên, vào năm 1925,
khoảng 400 thanh niên Việt đi lén trên các tàu biển đã tới Marseille (Pháp).
Không ý thức được các mối hiểm nguy đó, Phủ Toàn quyền Đông Dương
lợi dụng lúc vua Khải Định băng hà đã buộc Hội đồng Phụ Chính thông
qua trong phiên họp ngày 6 tháng 11 năm 1925 một đạo dụ thu hẹp quyền
hành của nhà vua nay chỉ giới hạn trong những chức trách thuần túy lễ
nghi, ban sắc cho các thần thành hoàng làng. Ngay cả việc tuyển dụng và
bổ nhiệm quan chức giúp việc cho nhà vua cũng thuộc quyền của Khâm sứ
Pháp. Chính quyền thuộc địa đã nhanh chóng cắt gọn cái cành cây mỏng
manh, vốn vẫn là chỗ dựa để cai trị dân bản xứ, như vậy sự sụp đổ của chế
độ thực dân chẳng còn bao xa.
Trong những điều kiện ấy, có gì đáng ngạc nhiên khi người ta ngày càng
hướng về “những người ở Pháp về” như Phan Văn Trường, Nguyễn An
Ninh, những nhà luận chiến nảy lửa ở Sài Gòn bắt đầu truyền bá những tư
https://thuviensach.vn
tưởng lật đổ do những cây bút già dặn viết trên các tờ báo bằng tiếng Pháp.
Năm 1925, một nhà văn có tên là Malraux đã phản ánh tình trạng này trên
tạp chí Indochine (Đông Dương): “Một tin đồn lan truyền khắp nơi trong
xứ An Nam về mối lo ngại rằng mọi sự căm giận, oán thù tản mát lâu nay
đã được tập hợp lại để có thể trở thành một sự bùng nổ, nếu các ngài không
đề phòng, khác nào cánh đồng vào vụ gặt.”
Thực vậy, một hành động mạnh mẽ vừa xuất hiện lại. Ngày 24 tháng 6 năm
1924, vào 8 giờ 30 phút tối tại tô giới Anh - Pháp ở Quảng Châu, người ta
tổ chức ở khách sạn Victoria tiệc mừng Toàn quyền Merlin vừa kết thúc
chuyến đi thăm các nước Đông Á...
Mục Lục
Giới thiệu
Lời giới thiệu
GIÁP của Georges Boudarel: Một cuốn sách nên đọc
Một người tên là Văn
Chàng sinh viên, thầy giáo dạy sử và người chiến sĩ cách mạng
Hoạt động du kích tại chiến khu Việt Bắc 1940 - 1945
Nhà chính khách 1945 - 1946
Chỉ huy quân đội tiến hành kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954
Nhà chiến lược đối mặt với Hoa Kỳ
Điện Biên Phủ
Những công sự kiểu Việt Nam
Gia đình, đồng chí và những người ảnh hưởng đến Võ Nguyên Giáp
Ghi nhanh vè Tướng Giáp và chiến thuật của ông
Những bức chân dung sống động
BẢNG TRA CỨU
https://thuviensach.vn
Giới thiệu
Cuốn sách này được Công ty Cổ phần Sách Thái Hà và Nhà xuất bản Thế
Giới hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tổ chức.
Trước hết chúng tôi xin chân thành cảm ơn dịch giả Nguyễn Văn Sự người đã giúp chúng tôi liên hệ để có được bản quyền tiếng Pháp của cuốn
sách và đã chuyển ngữ cuốn sách sang tiếng Việt. Chúng tôi xin gửi lời cảm
ơn đặc biệt tới gia đình và Văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp: ông Võ
Điện Biên, ông Võ Hồng Nam, Đại tá Trịnh Nguyên Huân đã giúp hiệu
đính nội dung cuốn sách. Chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn tới hai nhà sử
học: ông Alain Ruscio (Pháp) và ông Dương Trung Quốc đã viết lời giới
thiệu cho cuốn sách trong lần xuất bản tiếng Việt đầu tiên.
Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý độc giả để
cuốn sách được hoàn chỉnh hơn trong những lần in sau.
Lời giới thiệu
Đến nay, đã có nhiều cuốn sách của người nước ngoài viết về Đại tướng Võ
Nguyên Giáp, một trong những nhân vật nổi bật hàng đầu của lịch sử hiện
đại Việt Nam mà tên tuổi gắn liền với cuộc cách mạng giành độc lập dân
tộc, hai cuộc kháng chiến chống lại hai đế quốc lớn bảo vệ nền độc lập dân
tộc và thống nhất quốc gia cũng như các cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền
thiêng liêng của Tổ quốc. Đó cũng là tên tuổi gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Nhưng tác giả của cuốn
sách này lại là một người đặc biệt.
Georges Boudarel là một người đặc biệt, ông là một người Pháp nhưng lại
đứng trong hàng ngũ của những người chiến đấu chống lại nước Pháp thực
dân, cụ thể hơn là đứng trong quân ngũ của đạo quân do Tướng Giáp làm
https://thuviensach.vn
Tổng tư lệnh. Ông đến Việt Nam với tư cách là một cử nhân triết học để
dạy môn lịch sử trong một trường trung học ở Sài Gòn. Có lẽ chính từ
những tri thức lịch sử và triết lý mà nước Pháp của ông đã đề xướng “Tự do
- Bình đẳng - Bác ái”, ông đã lựa chọn như nhiều người Pháp tiến bộ sinh
sống ở Việt Nam mong muốn gìn giữ sự hòa hiếu giữa hai quốc gia sau khi
nước Việt Nam đã tuyên bố độc lập và thoát khỏi chế độ thuộc địa Pháp
giống như nước Pháp của họ thoát khỏi ách chiếm đóng của chủ nghĩa
phát-xít Đức.
Vì thế, khi cuộc chiến tranh Việt - Pháp bùng nổ (tháng 12 năm 1946), G.
Boudarel, một thành viên đã tham gia nhóm Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác, đã
lựa chọn con đường vào chiến khu của những người Việt Nam kháng chiến
để chống lại những tàn dư của chủ nghĩa thực dân. Ông tham gia cuộc
kháng chiến không bằng vũ khí sát thương mà bằng sự thức tỉnh đạo quân
viễn chinh hãy chấm dứt cuộc chiến tranh phi nghĩa mà họ đang tham dự.
Ông tham gia vào công tác binh vận bằng ngòi bút và những kiến thức về
triết học và lịch sử của mình.
Sau khi thực dân Pháp đã thảm bại ở Điện Biên Phủ, phải chấm dứt cuộc
chiến tranh xâm lược cũng là rút lui khỏi vũ đài lịch sử ở Việt Nam, G.
Boudarel vẫn ở lại Việt Nam làm việc trong lĩnh vực văn hóa đối ngoại tại
Đài Phát thành rồi Nhà xuất bản Ngoại văn và trực tiếp cộng tác với các
nhà nghiên cứu Việt Nam làm tập san Etudes Vietnamiennes.
Nếu như G. Boudarel đã có nhiều đóng góp tích cực giúp Việt Nam đánh
thắng chủ nghĩa thực dân thì ông lại không thành đạt khi ở lại Việt Nam
tham gia vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì thế, cũng đến lúc
ông phải chia tay với Việt Nam, nơi ông đã dành trọn tuổi thành xuân cho
một cuộc đấu tranh chính nghĩa không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà cho
chính cả nước Pháp Tổ quốc của ông.
Tuy rời xa mảnh đất Việt Nam, nhưng G. Boudarel vẫn dành tất cả sự nhiệt
tâm cho việc nghiên cứu và ủng hộ Việt Nam. Con người ấy vẫn giữ được
https://thuviensach.vn
phẩm chất một nhà giáo, được các đồng nghiệp Việt Nam yêu quý biến tấu
tên gọi tiếng Pháp thành tiếng Việt là “Bụt” (Boudha = Phật). Rồi cũng vì
toàn tâm gắn bó với Việt Nam mà ông đã từng bị một số phần tử cực đoan
tạo nên một vụ án bôi nhọ danh dự và vu khống rằng ông đã phản bội nước
Pháp khi cộng tác với Việt Minh. Chính những người Pháp chân chính đã
cùng ông đấu tranh vượt qua những thử thách ấy và Boudarel vẫn trọn vẹn
trung thành với tình yêu Việt Nam và công lý của mình.
Tình yêu ấy được thể hiện bằng những việc làm không biết mệt mỏi thể
hiện trong những bài khảo cứu hay những cuốn sách viết về Việt Nam của
ông mà cuốn Giáp các bạn đang có trên tay bản dịch tiếng Việt là một thành
tựu. Tên cuốn sách là một cách gọi thân mật nhưng vẫn giữ được sự trân
trọng của một người nước ngoài song lại không xa lạ đối với “người anh
Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam mà Boudarel đã từng tham gia.
Đó không chỉ là một cuốn tiểu sử, đó là một pho sử mà tên tuổi “Giáp” đã
gắn bó, cống hiến và để lại những dấu ấn rất đậm nét xuyên suốt toàn bộ
lịch sử hiện đại Việt Nam, lịch sử Giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa thực
dân trong cương vị của vị Tổng tư lệnh - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gắn
với huyền thoại từ Điện Biên Phủ (1954) cho đến “Điện Biên Phủ trên
không” (1972) rồi Chiến dịch mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (1975).
Cần nói thêm rằng, trước cuốn này, ngay từ năm 1970, giữa lúc cuộc Kháng
chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam còn đang diễn ra ác liệt,
tác phẩm Giương cao ngọn cờ chiến tranh nhân dân và đường lối quân sự
của Đảng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Nhà xuất bản Preagers
của Mỹ xuất bản và G. Boudarel đã viết lời giới thiệu với nhan đề “Chiến
tranh Đông Dương lần thứ hai - Quan sát và dự báo”.
Bằng niềm tin từ những trải nghiệm của cuộc Chiến tranh Đông Dương lần
thứ nhất, tức là cuộc Kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân
Pháp mà G. Boudarel từng tham gia, ông đã phân tích và khẳng định cuộc
Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam sẽ đi đến kết cục
https://thuviensach.vn
như trước là Mỹ không thể nào thắng được. Ông cũng tập trung phân tích
vai trò và đường lối quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn ở cương
vị Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang như cuộc chiến tranh lần trước sẽ làm
cho các tướng lĩnh Mỹ phải thất bại bởi sức mạnh của một dân tộc có
truyền thống chống ngoại xâm lại có một vị tướng tài và từng trải.
Trong quan niệm của G. Boudarel, Võ Nguyên Giáp là sự kế thừa có chọn
lựa những tư tưởng quân sự của các nhà cách mạng hiện đại như Lênin và
Mao Trạch Đông cũng như các nhà chiến lược quân sự kinh điển như
Clausewitz và Tôn Tử mặc dù khi trai trẻ, nhà giáo dạy lịch sử trẻ tuổi lại
rất say mê Napoléon. Nhưng trên hết, Võ Nguyên Giáp là sự vận dụng
trung thành với tư tưởng của Hồ Chí Minh cũng là của Đảng về Chiến tranh
nhân dân Việt Nam mà cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất là một
thành công. Vì thế, sự quan sát, phân tích và dự báo của G. Boudarel trở
nên sắc sảo và thuyết phục...
Do đó, khi G. Boudarel viết cuốn GIÁP như tiểu sử của một nhà quân sự
lớn, bên cạnh những phân tích khoa học, tác giả còn gửi gắm vào đó nhiều
tâm đắc đối với lịch sử Việt Nam hiện đại mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp
là một trong những hiện thân tiêu biểu, cái lịch sử mà chính tác giả cuốn
sách từng là “người trong cuộc”.
Tôi đã có cơ hội gặp Georges Boudarel trong những năm tháng cuối cùng
khi ông sống độc thân trong một ngôi nhà nhỏ ở Paris khiêm nhường nhưng
chất chứa đầy sách và những tư liệu quý giá về lịch sử và văn hóaViệt
Nam. Tôi và các bạn đồng nghiệp Việt Nam đã từng lên tiếng động viên,
ủng hộ khi ông bị những kẻ cực đoan bôi nhọ. Vì thế, một thập niên sau
ngày tác giả qua đời (2003), được giới thiệu cuốn sách viết về Đại tướng
Võ Nguyên Giáp, vị Chủ tịch Danh dự của Hội Sử học Việt Nam của người
đồng nghiệp đáng kính, Giáo sư sử học Georges Boudarel, đối với tôi là
một vinh dự.
Xin trân trọng giới thiệu với quý bạn đọc!
https://thuviensach.vn
Nhà sử học Dương Trung Quốc
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
https://thuviensach.vn
GIÁP của Georges Boudarel: Một
cuốn sách nên đọc
Năm 1975, chiến tranh kết thúc ở Việt Nam. Đó là cuộc chiến tranh dài
nhất, làm thiệt mạng nhiều người nhất trong thế kỷ XX, được biết đến trên
mọi châu lục, bên cạnh những cuộc chiến tranh khác. Chủ nghĩa thực dân
Pháp, rồi chủ nghĩa đế quốc Mỹ lần lượt mưu toan ngăn chặn làn sóng cách
mạng Việt Nam nhưng không thành công. Về phía Pháp, 9 tướng lĩnh cao
cấp, trong đó có những vị có nhiều kinh nghiệm nhất (từ tướng Leclerc đến
tướng Salan, không kể trước đó có d'Argenlieu, De Lattre...) lần lượt nắm
quyền chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp. Trong giai đoạn chiến tranh Mỹ
xâm lược Việt Nam, 4 tướng lĩnh, cũng là những người dày dạn kinh
nghiệm đã lần lượt thay nhau, trong đó có tướng Westmoreland và Abrams.
Tất cả đều xuất thân từ những trường quân sự nổi tiếng nhất phương Tây,
như Saint Cyr, West Point...
Đối mặt với họ, một người Việt Nam chưa từng ngồi trên ghế các trường
quân sự lớn, nhưng đã tự học chiến lược, chiến thuật trên thực địa, đó là
VÕ NGUYÊN GIÁP. Chính ông đã kể cho tôi trong những điều kiện nào
ông đã tiếp cận nghệ thuật chiến tranh: Chúng tôi không qua một trường
lớp quân sự nào. Khi còn ở Hà Nội năm 1940, các đồng chí của chúng tôi
truyền đạt nghị quyết của Đảng về chuẩn bị đấu tranh vũ trang, tôi vào Thư
viện Quốc gia tìm trong cuốn Đại từ điển Larousse những mục từ về kỹ
thuật quân sự. Tôi nhớ đã đọc mục từ “lựu đạn”. Tôi cố gắng tìm hiểu
nhưng khó quá, “lựu đạn tấn công”, “lựu đạn phòng ngự”, “hạt nổ”. Lúc đó
tôi không hiểu thế nào là “bộ phận nổ”[1].
[1] Alain Ruscio, Vo Nguyên Giap, une vie, Ed Les Indes Suivantes, 2010.
Xem thêm Võ Nguyên Giáp, Một cuộc đời, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2011, tr. 50-51.
https://thuviensach.vn
Một mình chống lại khoảng 15 sĩ quan cao cấp được đào tạo bài bản tại các
trường quân sự phương Tây! Cuộc đấu tranh xem ra không cân sức...
Đúng vậy, nhưng Võ Nguyên Giáp đâu phải chỉ có một mình! Ông có nhân
dân Việt Nam cùng kề vai sát cánh. Người Việt Nam giàu truyền thống đấu
tranh chống xâm lược nước ngoài, nhiều thế kỷ chống kẻ thù phương Bắc,
chống lại người Pháp trong thời kỳ chinh phục thuộc địa, sau đó từ năm
1945, tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, hiện thân trong hình
ảnh cao cả của Hồ Chí Minh. Với Bác Hồ, với Giáp và các bạn chiến đấu
của mình, cụm từ “chiến tranh nhân dân” không ngừng trở thành khẩu hiệu
động viên toàn thể dân tộc, được đem ra thực hiện hàng ngày. Ít nhà quan
sát người Pháp trước năm 1946, và còn ít hơn nữa các nhà quan sát người
Mỹ trước những năm 1960 có thể hiểu được điều này.
Làm sao “một dân tộc nhỏ bé” của những người nông dân mà họ gọi một
cách coi thường là “những người nhà quê” lại có thể đương đầu với vũ khí
hiện đại? Làm sao những người du kích quần áo rách rưới đi dép cao su lại
có thể đua tranh với các “ông lớn” da trắng mặc quân phục dã chiến, đi ủng
cao và được trang bị đến tận răng?
Một người bạn chiến đấu khác của Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng,
cách đây không lâu đã kể cho tôi một giai thoại sau. Năm 1946 khi ông dẫn
đầu Phái đoàn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến dự Hội nghị
Fontainebleau, Max André, người dẫn đầu Phái đoàn Pháp, đã phát biểu với
giọng trịch thượng: “Các ông hãy tỏ ra biết điều, hãy nhường Nam Kỳ cho
chúng tôi. Các ông không muốn chiến tranh đấy chứ? Nếu chẳng may chiến
tranh xảy ra, quân lính của các ông chỉ cầm cự được dăm tháng là cùng!”.
Tôi còn nhớ khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng kể lại cho tôi câu chuyện đó,
ông phá lên cười, một cái cười rất tự nhiên, cứ như ai nói đến chuyện đó
cũng phải cười như thế!
Thế mà thực dân Pháp đã bại trận. Nước Mỹ được trang bị vũ khí tối tân
nhất thế giới cũng bại trận. Đương nhiên nhân dân Việt Nam phải trả giá
https://thuviensach.vn
bằng bao nỗi đau thương, mất mát! Nhưng thực tế còn kia: chiến thắng năm
1975 đang và sẽ còn là một thời điểm quan trọng nhất của thế kỷ XX.
Cuốn sách GIÁP bằng tiếng Pháp của Boudarel ra mắt độc giả từ năm
1977, nghĩa là hai năm sau chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975 của Việt
Nam. Có lẽ đây là điều trách cứ duy nhất chúng tôi có thể dành cho nhà sử
học này. Bởi với kinh nghiệm, hiểu biết sâu sắc về con người, đất nước Việt
Nam, “tổ quốc thứ hai” của ông, thông thạo tiếng Việt, đáng lẽ Boudarel
phải viết sớm hơn thế, ngay từ trong chiến tranh mới phải. Bởi nếu thế, có
lẽ ông sẽ giúp chúng ta hiểu được nguyên nhân nào đã khiến nhân dân Việt
Nam giành được thắng lợi.
Thực vậy, cuốn sách này có lợi thế lớn hơn nhiều so các cuốn sách khác đã
viết về GIÁP sau đó: Không còn bám vào câu hỏi “Giáp và nhân dân Việt
Nam đã giành được thắng lợi như thế nào?”, nhưng Boudarel đã giải thích
“Tại sao” họ lại chiến thắng. Và muốn giải đáp được câu hỏi trên, phải tìm
hiểu lịch sử đất nước này từ rất lâu trước thế kỷ XX, điều đó Boudarel đã
nắm được và chuyển tải sang cuốn sách của ông.
Tại Pháp, cuốn sách này đã không được hoan nghênh như đáng lẽ phải có.
Tình hình biến chuyển nhanh và năm 1977, âm vang của chiến thắng 1975
của Việt Nam đã bị những sự kiện quốc tế khác che phủ. Báo chí không nói
nhiều đến công trình nghiên cứu mang tính đổi mới này. Hơn nữa, từ năm
1978, bằng chiến dịch xấu xa vu cáo Việt Nam: với những “thuyền nhân”,
rồi những khó khăn của đất nước ở biên giới Tây Nam (Khmers Đỏ đánh
phá) và phía Bắc (Trung Quốc khiêu khích), phương Tây tưởng đã đến lúc
phục thù. Chiến dịch vu cáo này đạt tới đỉnh điểm khi Việt Nam giúp giải
phóng Campuchia, rồi tiếp đó là cuộc chiến tranh biên giới ở phía Bắc. Rất
nhiều người Pháp chúng tôi trước sau kiên trì ủng hộ Việt Nam: đó là
những người cộng sản, những lực lượng tiến bộ, cả những người Công giáo
cánh tả, những hội viên Hội Hữu nghị Pháp-Việt. Georges Boudarel lúc đó
https://thuviensach.vn
tuy có cái nhìn phê phán “tổ quốc thứ hai” của ông nhưng vẫn đứng bên
cạnh chúng tôi.
Sau này người ta biết rằng bản thân Boudarel cũng là đối tượng của một
chiến dịch khá mạnh gây thù hằn của những kẻ thua trận trong lịch sử,
“những người cũ ở Đông Dương” và một phần cánh hữu của Pháp. Tôi
thuộc về những người đã bênh vực Boudarel lúc đó. Tôi còn nhớ tôi đã gặp
Boudarel trong ngôi nhà ông nghỉ hưu vào những năm cuối đời. Lúc đó sức
khỏe ông đã sa sút lắm nhưng vẫn minh mẫn, luôn đọc rất nhiều, hay hỏi
thăm tin tức về Việt Nam...
Giờ đây cuốn sách được dịch sang tiếng Việt, quả là một việc làm đáng
hoan nghênh. Bạn đọc Việt Nam ngày nay có thể tìm hiểu qua những trang
sách hết sức phong phú nhưng cô đọng, cung cấp nhiều thông tin quý giá
và bổ ích về cuộc đời của một trong những nhân vật vĩ đại của thời đại này,
Đại tướng Tổng tư lệnh VÕ NGUYÊN GIÁP.
Đây đồng thời cũng là một sự trân trọng của Việt Nam ngày nay dành cho
một trong những người bạn trung thành sáng suốt nhưng có khi bị chỉ trích
- Georges Boudarel.
Alain Ruscio, nhà sử học Pháp
Paris, tháng 11 năm 2012
https://thuviensach.vn
VÕ NGUYÊN GIÁP
Một người tên là Văn
Ngày 24 tháng 12 năm 1944, chiều muộn. Một nhóm 32 người men theo
con đường trong một góc khuất vùng rừng núi tỉnh Cao Bằng, phía cực bắc
của Việt Nam, ngay gần biên giới Việt - Trung. Đi cuối nhóm đầu tiên là
trưởng nhóm, một người tên là Văn. Hoạt động ở vùng này từ ba năm nay,
chưa bao giờ Văn có nhiều người dưới quyền đến thế, chưa bao giờ anh
dám đi giữa ban ngày ban mặt với một nhóm người trên đường như thế.
Khi quay lại để nhìn cả đội, cảnh hàng người chạy dọc theo những khúc
quanh của con đường núi khiến anh ấm lòng. Đầu đội nón bọc vải, mình
mặc quần áo chàm, chân quấn xà cạp, có thể khiến anh vui vui khi thấy
mình trông thật buồn cười. Cả đội ăn mặc giống lính dõng.
Mục tiêu của họ là gì? Đó là Phai Khắt, một đồn nhỏ. Từ hơn một năm nay,
đồn có khoảng 10 lính dõng, do một viên thiếu tá người Pháp làm chỉ huy,
có11 vài ngôi nhà tranh bên bờ suối, đối diện với một nương lúa nằm sát
trong núi. Đây là một bản Việt Minh “hoàn toàn”: toàn bộ người dân, kể cả
chức dịch đều “hoàn toàn” theo Việt Minh. Không có gì đáng lo. Người dân
đã cung cấp mọi thông tin.
17 giờ ngày 25 tháng 12, đội chìa “Giấy đi tuần” cho tên lính gác rồi đi
thẳng vào đồn, theo sau Thu Sơn mặc bộ kaki đóng giả đội sếp.
- Chúng tao đang đi tuần, quan đồn có nhà không? Thu Sơn hỏi tên lính
gác, giọng hách dịch rồi đàng hoàng tiến vào đồn. Người của anh nhanh
chóng tiếp cận nơi để súng, trong khi hai nhóm khác bao vây nhà bọn lính
ở. Lúc đó, lính địch đứa đang ăn cơm trong nhà, đứa thu dọn quần áo, đứa
quét dọn, sửa hàng rào. Thu Sơn hô lớn: “Rassemblement! Rassemblement
général! Le chef de poste revient du district!” (Tập hợp! Tập hợp! Đồn
https://thuviensach.vn
trưởng về!). Một lát sau, khi toàn bộ lính đã tập hợp trước mặt, Thu Sơn đổi
giọng:
- Chúng tôi là quân cách mạng, anh em đầu hàng sẽ không giết ai hết, giơ
tay lên!
Bị bất ngờ, không kịp trở tay, toàn bộ lính địch buộc phải đầu hàng. Giữa
lúc đó, người của tổ canh gác cách đồn 3 kilômét phóng ngựa tới báo tin
tên đồn trưởng đang đi ngựa trở về, theo sau hắn có 10 tên lính không mang
súng. Đội quyết định bắt tên đồn trưởng. Những tên lính bị bắt được đưa ra
phía sau đồn, chiến lợi phẩm được thu dọn, rồi ai nấy vào vị trí. Văn, Thu
Sơn và Hoàng Sâm nấp dưới mái hiên. Văn nói nhỏ: “Khi nó vào, tôi sẽ hô
“Giơ tay lên”, nếu nó giơ tay các đồng chí lập tức xông ra bắt sống. Có lệnh
mới được nổ súng”. Nhưng khi Văn vừa hô “Giơ tay lên” thì nhiều tiếng
súng vang lên, cả người và ngựa đều bị tiêu diệt. Do quá căm thù, không
kìm được nên một số đồng chí đã nổ súng ngay.
Việc thu dọn chiến trường được tổ chức ngay với sự giúp đỡ của nhân dân.
Tất cả những gì có thể sử dụng trong cuộc sống hàng ngày đều được để lại
cho dân làng. Những vũ khí thu được được trang bị ngay cho đội, súng kíp
giao lại cho du kích địa phương. Số súng này đủ trang bị cho nửa trung đội,
nhưng thu được rất ít đạn.
Nửa đêm hôm ấy, đội dừng chân ở một bản cách đó 15 kilômét để kiểm
điểm rút kinh nghiệm trận đánh vừa qua. Tới 3 giờ sáng ngày 26 tháng 12,
cả đội tiếp tục hành quân đến Nà Ngần, một ngôi nhà được biến thành đồn
lính, có 22 lính khố đỏ, do hai sĩ quan người Pháp chỉ huy, nằm cách đồn
Phai Khắt 25 kilômét. Đội hy vọng sẽ thu được đạn dược ở đây. Sáng sớm,
đội dừng lại. Cả đội thay quần áo, cải trang bằng những bộ quần áo lính
dõng, lính tập mới thu được ở Phai Khắt, giả làm một toán lính dõng, lính
khố đỏ đang dẫn giải “ba cộng sản” bị trói. Kịch
https://thuviensach.vn
bản có thay đổi. Khi đến cổng, Thu Sơn lại chìa giấy cho lính gác xem,
trong khi một đồng chí khác đi sau rút thuốc lá ra mời và châm lửa cho bọn
gác. Tò mò, lính gác trên chòi canh liếc nhìn:
- Lại bắt được cộng sản người Mán à?
Trong khi cuộc chuyện trò diễn ra với nhóm thứ hai, thì Thu Sơn đi thẳng
vào trong đồn. Lúc này đồn do một tên đội người Việt, nổi tiếng phản động,
chỉ huy thay cho hai sĩ quan lên tỉnh. Cũng như ở Phai Khắt, bọn lính đang
làm nhiều việc khác nhau, một số thu dọn chăn màn, một số đi rửa mặt. Tên
đội ngồi ở bàn làm việc; vũ khí vẫn còn trên giá để súng, trong đó bốn khẩu
đã bị Việt Minh lấy ngay ở lối vào. Thu Sơn chĩa khẩu tiểu liên vào tên đội.
Bất ngờ tên đội định đặt tay vào khẩu súng của hắn đặt trên bàn, nhưng
trước khi hắn có thời gian làm việc đó thì đã bị hạ. Nhóm đang nói chuyện
ở lối vào vô hiệu lính gác, bọn lính trong đồn rất hoảng hốt. Mọi việc diễn
ra rất nhanh. Ba tên lính liều chết chống cự đều bị tiêu diệt. Ba du kích
người Tày được cử đến giải thích. Tù binh rất ngạc nhiên khi thấy các nữ
chiến sĩ vai mang súng, lưng đeo đạn, nói năng lưu loát, giải thích cho họ
hiểu chủ trương chính sách của Việt Minh. Đa phần tù binh xin được trở về
quê, họ được trả lại quân trang.
Hai mươi phút sau, đội lại ra đi sau một cuộc giải thích nhanh cho dân làng
mà họ phải ngăn không cho đi theo đội.
Đến tối, toàn đội vượt qua quốc lộ 3A (Cao Bằng - Nguyên Bình) và đi vào
vùng rừng núi đá vôi Gia Bằng. Cả ngày, anh em chỉ ăn một bữa cơm,
nhưng vẫn cố gắng đi liên tục không nghỉ. Một đội viên đã tổng kết thành
một câu hài hước: “Quân cách mạng chúng tôi ăn thì mỗi ngày một bữa,
đánh thì mỗi ngày hai trận”. Đội đi cả đêm trong rừng, đến tận Lũng Dẻ,
một bản của đồng bào Mông, giữa khu du kích Thiện Thuật (tên của một
chí sĩ kháng Pháp ở đồng bằng sông Hồng khi Pháp chiếm Bắc Kỳ trong
những năm 1880). Khu du kích nằm trong một lòng chảo khá rộng, bao
quanh là những vách đá tai mèo hiểm trở, một thành trì tự nhiên thực sự.
https://thuviensach.vn
Trong mười ngày tại Lũng Dẻ, cả đội nghỉ ngơi, chấn chỉnh, củng cố lực
lượng và huấn luyện thêm. Khi xuất phát, đội được phát triển thành đại đội.
Một bộ phận nhỏ do Hoàng Văn Thái chỉ huy, phụ trách công tác tham mưu
- tình báo, đi xuống phía nam hoạt động tuyên truyền, mở rộng cơ sở. Đại
bộ phận, do Văn chỉ huy, đi lên phía bắc, hướng về đồn Đồng Mu, phải đi
qua Trung Quốc, gần Bảo Lạc, cách đường ở phía bắc Cao Bằng 100
kilômét, trong đó 60 kilômét là đường mòn hẹp và hiểm trở. Hoạt động của
Việt Minh còn yếu trong vùng địa hình hiểm trở lởm chởm đá tai mèo, rừng
núi lô nhô, giống như một vịnh Hạ Long trên cạn với đỉnh núi Pia Oắc cao
1931 mét ở phía nam. Không thể đi theo đường dễ, cũng không đi được vào
ban ngày, cả đội đi liên tục, theo nhiều điểm, có khi lại phải đi xuống thung
lũng và im lặng vượt qua những điểm gác của địch, trong tiếng trống của
lính gác đêm. Đồn Đồng Mu được xây dựng rất kiên cố trên một ngọn đồi
cao vì phải thường xuyên đối phó với bọn phỉ từ phía Trung Quốc. Quân
lính trong đồn có hơn 40 lính khố đỏ, do ba tên sĩ quan Pháp chỉ huy. Đồn
có nhiều lô cốt, tường dày có lỗ châu mai, giao thông hào và dây thép gai
bao bọc xung quanh. Không thể sử dụng cách cải trang đột nhập đồn, chỉ
còn cách vượt tường đột nhập và kêu gọi quân bên trong đầu hàng. Đội
chia thành bốn tổ, xuất phát trong đêm, leo lên đồi và vượt hàng rào dây
thép gai. Đội đang đột nhập thì bị địch hỏi:
- Ai?
Tình huống này nằm ngoài dự kiến.
- Chúng tôi là Việt Minh đến lấy súng của Tây, không đánh các anh em.
Một quả lựu đạn và một loạt đạn nổ vang. Từ 23 giờ đến 2 giờ sáng, bên
trong đồn, hai đội đã vào được và bắn nhau với địch dữ dội. Việt Minh vừa
bắn vừa hát để động viên khí thế chiến đấu và báo hiệu cho các chiến sĩ liên
lạc. Tuy nhiên, họ lại làm lộ vị trí chiến đấu, khiến quân địch tập trung hỏa
lực bắn tới. Đến rạng sáng, ban chỉ huy hạ lệnh rút khỏi đồn. Đội mất một
https://thuviensach.vn
tiểu đội trưởng, thu năm súng trường mousqueton và một số đạn, bắt bốn tù
binh. Các tù binh này khai đồn đã trong tình trạng báo động.
Một cuộc hành quân mới lại bắt đầu, mọi người vừa đi vừa nghỉ dọc đường
và ăn cơm nắm. Sau khi nghỉ ngơi, đội cẩn thận xóa mọi dấu vết nhỏ nhất,
từ những chiếc lá gói thức ăn đến hạt cơm rơi xuống đất vì chúng có thể để
lộ dấu vết. Rồi cả đội lại lên đường. Đến vùng an toàn hơn, các chiến sĩ tản
ra thành những đội nhỏ đi vào bản để tuyên truyền. Tại Nà Ngần, họ có
được thành quả đầu tiên: thu 16 súng trường và nhiều tù binh. Nhưng bây
giờ, việc cần ưu tiên là tuyên truyền. Hồ Chí Minh đã nhắc đi nhắc lại điều
này: “Chính trị trọng hơn quân sự, vũ trang tuyên truyền trọng hơn tác
chiến”.
“Một chiến thắng chỉ được 100 người biết sẽ chỉ tác động đến 100 người;
nhưng nếu ta cho 1000 người biết, thì cũng như ta đã mang về 10 chiến
thắng khác hoặc một chiến thắng lớn hơn 10 lần”. Người sau này viết lên
những dòng này chính là Văn, mà Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng
quân của ông vừa có những trận tấn công đầu tiên. Sáu tháng sau, ông được
cả thế giới biết đến với tên thật Võ Nguyên Giáp.
https://thuviensach.vn
Chàng sinh viên, thầy giáo dạy sử và
người chiến sĩ cách mạng
Sinh ở An Xá, tỉnh Quảng Bình vào năm 1910[1], Giáp lúc nhỏ sống ở một
vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển miền Trung phía bắc vĩ tuyến 17. Nơi
đây từ thế kỷ XI là bàn đạp của cuộc nam tiến không gì ngăn nổi của dân
tộc Việt Nam. Ông đã lớn lên ở một vùng đất hẹp vào bậc nhất của Việt
Nam, có những cánh đồng lúa nước kẹp giữa một bên là những cồn cát
trắng xóa mênh mông chạy dọc bờ biển và bên kia là những mỏm núi xanh
trơ trụi trong dãy Hoành Sơn uốn lượn giữa những cánh rừng rậm, nơi đây
vào mùa hè những cơn gió tây khô rát gọi là gió Lào từ lục địa Nam Á
nóng bỏng thổi ra biển.
[1] Theo xác nhận của gia đình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày
25/8/1911. (Ghi chú của Văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp - VPĐT).
Cụ bà thân sinh, những hôm không bận việc đồng áng thì cặm cụi bên
khung cửi. Còn cụ ông là một nông dân có học thức tự cày cấy ruộng nhà,
và truyền lại cho cậu bé Giáp chữ nghĩa, vốn tri thức và tình yêu quê hương
đất nước. Đối với những ai hiểu biết thì mỗi tấc đất ở đây đều mang một
chứng tích lịch sử. Phía bắc tỉnh là động Phong Nha sâu hút, thu hút nhiều
khách hành hương đến cầu nguyện trước một bàn thờ còn sót lại của người
Chăm, bên cạnh những nhũ đá lung linh dưới ánh sáng khi mờ khi tỏ từ cửa
động rọi vào. Trên bờ biển, Đèo Ngang hùng vĩ nằm án ngữ biển, nơi đây
Bà Huyện Thanh Quan, nữ thi sĩ của thế kỷ XVIII từng ca ngợi vào một
buổi chiều tà: “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc”. Cậu bé Giáp tuy ở tuổi
ấu thơ cũng đã hiểu rằng nữ tác giả khi nói đến con cuốc cuốc là nói đến
non sông đất nước vì tiếng con chim cuốc theo âm Hán Việt đồng âm với
tiếng quốc có nghĩa là đất nước quê hương.
https://thuviensach.vn
Cách làng An Xá một quãng ngắn, còn sót lại di tích của thành lũy do nhà
quân sự kiêm thầy giáo dạy chữ Nho, Đào Duy Từ, tác giả cuốn Hổ trướng
khu cơ (Bí quyết phép dùng binh) - một cuốn sách giáo khoa dạy nghệ
thuật quân sự cho các tướng lĩnh thời bấy giờ - xây dựng vào cuối thế kỷ
XVII được người dân vùng này truyền tụng là lũy Thầy. 25 năm trước khi
cậu bé Giáp ra đời, toàn bộ vùng đất Quảng Bình này từng là địa bàn hoạt
động của nghĩa quân Cần Vương, hưởng ứng lời kêu gọi chống Pháp của
vua Hàm Nghi. Ở phía bắc, trong tỉnh kế bên cũng có một văn thân là cụ
Phan Đình Phùng đã xây dựng căn cứ kháng chiến trên núi Vụ Quang trong
mười năm và đến năm 1910, một toán nghĩa quân còn về đồng bằng quyên
góp lương thực và gây quỹ ủng hộ kháng chiến chống Tây. Nhưng sau năm
1919, dường như quá khứ vẻ vang ấy đã vĩnh viễn hết thời, không có gì
cưỡng lại được. Người ta bước vào một thời đại mới, bút lông mềm mại đã
nhường chỗ cho bút sắt vừa viết vừa phát ra tiếng cót két của hãng SergentMajor từ phương Tây đem tới.
Năm 1923, cậu bé Giáp tạm biệt cha mẹ già vào Huế, cố đô của triều đình
nhà Nguyễn xưa, cách nhà 150 kilômét, để học ở trường Quốc học. Vào
thời đó, các trường học từ bậc trung học trở lên đều đặt ở các thành phố, thị
xã và đô thị lớn, và được “chính trị hóa” một cách khác thường. Học sinh
không ồn ào, hiếu động mà rất chăm chỉ đèn sách. Ở lớp, các cô cậu im
lặng, ngồi nghiêm chỉnh nghe lời thầy giảng hay ghi ghi chép chép, chỉ còn
nghe được tiếng ruồi bay qua bay lại. Một số cố học để sau này ra làm
quan. Nhiều người khác cốt sao sau này nên người, để “cứu nước, đánh
giặc ngoại xâm”, “canh tân đất nước”. Những ý nghĩ tốt đẹp này ám ảnh
tâm trí những con người trẻ tuổi. Đi đâu cũng thấy những nhóm nhỏ ra đời
mà trong buổi lễ gia nhập, các cậu “thề đấu tranh, hy sinh đến cùng cho sự
nghiệp”.
Người ta xì xào, bàn tán về con người có sức hấp dẫn kỳ lạ mang tên
Nguyễn Ái Quốc (sau này đổi tên là Hồ Chí Minh), tác giả áng văn đả kích
nổi tiếng có tựa đề: Bản án chế độ thực dân Pháp, cùng với những người
https://thuviensach.vn
cùng chí hướng đang hoạt động tại nước Nga Xô viết. Người ta đưa cho
Giáp một bản và anh đã đọc say sưa. Báo chí thực dân đã dành toàn bộ
phương tiện tuyên truyền tốt nhất để vu cáo những người Bôn-sê-vích,
thậm chí có những người có xu hướng ôn hòa, chỉ đưa ra những đề nghị cải
cách xã hội khiêm tốn nhất cũng bị chúng gán cho cái tên Bôn-sê-vích.
Anh học trò trung học Võ Nguyên Giáp đặc biệt say mê các môn lịch sử,
địa lý và vật lý. Anh chỉ rời sách vở khi bận đến dự những cuộc thảo luận
sôi nổi về các đề tài liên quan đến lịch sử nước nhà. Khi 14, 15 tuổi đời anh
đã có những bước ngoặt có tính quyết định cả cuộc đời anh sau này.
Năm 1924, Toàn quyền Đông Dương Merlin tích cực phá hủy những gì mà
những người tiền nhiệm của ông là Albert Sarraut và Maurice Long đã
bước đầu xây dựng cho cái gọi là tự do, bác ái ở Đông Dương. Merlin chủ
trương thanh niên Đông Dương chỉ nên học đến bậc trung học rồi đi làm,
không nên học lên đại học, nhất là sang Pháp du học vì ông ta cho rằng họ
sang chính quốc sẽ bị ảnh hưởng chủ nghĩa nhân quyền tự do của nước
Pháp, sẽ trở thành những phần tử chống Pháp. Tuy nhiên, vào năm 1925,
khoảng 400 thanh niên Việt đi lén trên các tàu biển đã tới Marseille (Pháp).
Không ý thức được các mối hiểm nguy đó, Phủ Toàn quyền Đông Dương
lợi dụng lúc vua Khải Định băng hà đã buộc Hội đồng Phụ Chính thông
qua trong phiên họp ngày 6 tháng 11 năm 1925 một đạo dụ thu hẹp quyền
hành của nhà vua nay chỉ giới hạn trong những chức trách thuần túy lễ
nghi, ban sắc cho các thần thành hoàng làng. Ngay cả việc tuyển dụng và
bổ nhiệm quan chức giúp việc cho nhà vua cũng thuộc quyền của Khâm sứ
Pháp. Chính quyền thuộc địa đã nhanh chóng cắt gọn cái cành cây mỏng
manh, vốn vẫn là chỗ dựa để cai trị dân bản xứ, như vậy sự sụp đổ của chế
độ thực dân chẳng còn bao xa.
Trong những điều kiện ấy, có gì đáng ngạc nhiên khi người ta ngày càng
hướng về “những người ở Pháp về” như Phan Văn Trường, Nguyễn An
Ninh, những nhà luận chiến nảy lửa ở Sài Gòn bắt đầu truyền bá những tư
https://thuviensach.vn
tưởng lật đổ do những cây bút già dặn viết trên các tờ báo bằng tiếng Pháp.
Năm 1925, một nhà văn có tên là Malraux đã phản ánh tình trạng này trên
tạp chí Indochine (Đông Dương): “Một tin đồn lan truyền khắp nơi trong
xứ An Nam về mối lo ngại rằng mọi sự căm giận, oán thù tản mát lâu nay
đã được tập hợp lại để có thể trở thành một sự bùng nổ, nếu các ngài không
đề phòng, khác nào cánh đồng vào vụ gặt.”
Thực vậy, một hành động mạnh mẽ vừa xuất hiện lại. Ngày 24 tháng 6 năm
1924, vào 8 giờ 30 phút tối tại tô giới Anh - Pháp ở Quảng Châu, người ta
tổ chức ở khách sạn Victoria tiệc mừng Toàn quyền Merlin vừa kết thúc
chuyến đi thăm các nước Đông Á...
 





