BẢN TIN HÔM NAY

Ngày 24/2/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định lấy 21/4 hằng năm là ngày Sách Việt Nam. Sau đó, để đưa Văn hóa đọc được phổ biến rộng rãi hơn, ngày 4/11/2021, Thủ tướng Chính phủ quyết định tổ chức Ngày Sách và Văn hóa Đọc Việt Nam, thay thế cho Ngày Sách Việt Nam trước đó. Sự kiện này vẫn được tổ chức vào ngày 21/4 hàng năm nhằm thúc đẩy và phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng.Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam hướng đến việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sách và văn hóa đọc. Sách là kho tàng tri thức vô tận, là nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội. Đọc sách giúp con người mở rộng tầm nhìn, bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện tư duy, hoàn thiện nhân cách. Việc xây dựng văn hóa đọc là góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc.

TÀI NGUYÊN SÓ THƯ VIỆN PT DTNT QUẢNG NGÃI

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z5419688814129_175508705f358415077aea769ffceb22.jpg Z5419688838617_8200965a59d207e0195f97dfeabd51c0.jpg BANDODANCU.jpg 53.png BANDOTUNHIEN.jpg

    ý nghĩa của việc đọc sách

    Võ Nguyên Giáp

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 18h:53' 05-04-2024
    Dung lượng: 873.9 KB
    Số lượt tải: 11
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Mục Lục
    Giới thiệu
    Lời giới thiệu
    GIÁP của Georges Boudarel: Một cuốn sách nên đọc
    Một người tên là Văn
    Chàng sinh viên, thầy giáo dạy sử và người chiến sĩ cách mạng
    Hoạt động du kích tại chiến khu Việt Bắc 1940 - 1945
    Nhà chính khách 1945 - 1946
    Chỉ huy quân đội tiến hành kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954
    Nhà chiến lược đối mặt với Hoa Kỳ
    Điện Biên Phủ
    Những công sự kiểu Việt Nam
    Gia đình, đồng chí và những người ảnh hưởng đến Võ Nguyên Giáp
    Ghi nhanh vè Tướng Giáp và chiến thuật của ông
    Những bức chân dung sống động
    BẢNG TRA CỨU

    https://thuviensach.vn

    Giới thiệu
    Cuốn sách này được Công ty Cổ phần Sách Thái Hà và Nhà xuất bản Thế
    Giới hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tổ chức.
    Trước hết chúng tôi xin chân thành cảm ơn dịch giả Nguyễn Văn Sự người đã giúp chúng tôi liên hệ để có được bản quyền tiếng Pháp của cuốn
    sách và đã chuyển ngữ cuốn sách sang tiếng Việt. Chúng tôi xin gửi lời cảm
    ơn đặc biệt tới gia đình và Văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp: ông Võ
    Điện Biên, ông Võ Hồng Nam, Đại tá Trịnh Nguyên Huân đã giúp hiệu
    đính nội dung cuốn sách. Chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn tới hai nhà sử
    học: ông Alain Ruscio (Pháp) và ông Dương Trung Quốc đã viết lời giới
    thiệu cho cuốn sách trong lần xuất bản tiếng Việt đầu tiên.
    Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý độc giả để
    cuốn sách được hoàn chỉnh hơn trong những lần in sau.

    Lời giới thiệu
    Đến nay, đã có nhiều cuốn sách của người nước ngoài viết về Đại tướng Võ
    Nguyên Giáp, một trong những nhân vật nổi bật hàng đầu của lịch sử hiện
    đại Việt Nam mà tên tuổi gắn liền với cuộc cách mạng giành độc lập dân
    tộc, hai cuộc kháng chiến chống lại hai đế quốc lớn bảo vệ nền độc lập dân
    tộc và thống nhất quốc gia cũng như các cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền
    thiêng liêng của Tổ quốc. Đó cũng là tên tuổi gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí
    Minh và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Nhưng tác giả của cuốn
    sách này lại là một người đặc biệt.
    Georges Boudarel là một người đặc biệt, ông là một người Pháp nhưng lại
    đứng trong hàng ngũ của những người chiến đấu chống lại nước Pháp thực
    dân, cụ thể hơn là đứng trong quân ngũ của đạo quân do Tướng Giáp làm

    https://thuviensach.vn

    Tổng tư lệnh. Ông đến Việt Nam với tư cách là một cử nhân triết học để
    dạy môn lịch sử trong một trường trung học ở Sài Gòn. Có lẽ chính từ
    những tri thức lịch sử và triết lý mà nước Pháp của ông đã đề xướng “Tự do
    - Bình đẳng - Bác ái”, ông đã lựa chọn như nhiều người Pháp tiến bộ sinh
    sống ở Việt Nam mong muốn gìn giữ sự hòa hiếu giữa hai quốc gia sau khi
    nước Việt Nam đã tuyên bố độc lập và thoát khỏi chế độ thuộc địa Pháp
    giống như nước Pháp của họ thoát khỏi ách chiếm đóng của chủ nghĩa
    phát-xít Đức.
    Vì thế, khi cuộc chiến tranh Việt - Pháp bùng nổ (tháng 12 năm 1946), G.
    Boudarel, một thành viên đã tham gia nhóm Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác, đã
    lựa chọn con đường vào chiến khu của những người Việt Nam kháng chiến
    để chống lại những tàn dư của chủ nghĩa thực dân. Ông tham gia cuộc
    kháng chiến không bằng vũ khí sát thương mà bằng sự thức tỉnh đạo quân
    viễn chinh hãy chấm dứt cuộc chiến tranh phi nghĩa mà họ đang tham dự.
    Ông tham gia vào công tác binh vận bằng ngòi bút và những kiến thức về
    triết học và lịch sử của mình.
    Sau khi thực dân Pháp đã thảm bại ở Điện Biên Phủ, phải chấm dứt cuộc
    chiến tranh xâm lược cũng là rút lui khỏi vũ đài lịch sử ở Việt Nam, G.
    Boudarel vẫn ở lại Việt Nam làm việc trong lĩnh vực văn hóa đối ngoại tại
    Đài Phát thành rồi Nhà xuất bản Ngoại văn và trực tiếp cộng tác với các
    nhà nghiên cứu Việt Nam làm tập san Etudes Vietnamiennes.
    Nếu như G. Boudarel đã có nhiều đóng góp tích cực giúp Việt Nam đánh
    thắng chủ nghĩa thực dân thì ông lại không thành đạt khi ở lại Việt Nam
    tham gia vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì thế, cũng đến lúc
    ông phải chia tay với Việt Nam, nơi ông đã dành trọn tuổi thành xuân cho
    một cuộc đấu tranh chính nghĩa không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà cho
    chính cả nước Pháp Tổ quốc của ông.
    Tuy rời xa mảnh đất Việt Nam, nhưng G. Boudarel vẫn dành tất cả sự nhiệt
    tâm cho việc nghiên cứu và ủng hộ Việt Nam. Con người ấy vẫn giữ được

    https://thuviensach.vn

    phẩm chất một nhà giáo, được các đồng nghiệp Việt Nam yêu quý biến tấu
    tên gọi tiếng Pháp thành tiếng Việt là “Bụt” (Boudha = Phật). Rồi cũng vì
    toàn tâm gắn bó với Việt Nam mà ông đã từng bị một số phần tử cực đoan
    tạo nên một vụ án bôi nhọ danh dự và vu khống rằng ông đã phản bội nước
    Pháp khi cộng tác với Việt Minh. Chính những người Pháp chân chính đã
    cùng ông đấu tranh vượt qua những thử thách ấy và Boudarel vẫn trọn vẹn
    trung thành với tình yêu Việt Nam và công lý của mình.
    Tình yêu ấy được thể hiện bằng những việc làm không biết mệt mỏi thể
    hiện trong những bài khảo cứu hay những cuốn sách viết về Việt Nam của
    ông mà cuốn Giáp các bạn đang có trên tay bản dịch tiếng Việt là một thành
    tựu. Tên cuốn sách là một cách gọi thân mật nhưng vẫn giữ được sự trân
    trọng của một người nước ngoài song lại không xa lạ đối với “người anh
    Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam mà Boudarel đã từng tham gia.
    Đó không chỉ là một cuốn tiểu sử, đó là một pho sử mà tên tuổi “Giáp” đã
    gắn bó, cống hiến và để lại những dấu ấn rất đậm nét xuyên suốt toàn bộ
    lịch sử hiện đại Việt Nam, lịch sử Giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa thực
    dân trong cương vị của vị Tổng tư lệnh - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gắn
    với huyền thoại từ Điện Biên Phủ (1954) cho đến “Điện Biên Phủ trên
    không” (1972) rồi Chiến dịch mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (1975).
    Cần nói thêm rằng, trước cuốn này, ngay từ năm 1970, giữa lúc cuộc Kháng
    chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam còn đang diễn ra ác liệt,
    tác phẩm Giương cao ngọn cờ chiến tranh nhân dân và đường lối quân sự
    của Đảng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Nhà xuất bản Preagers
    của Mỹ xuất bản và G. Boudarel đã viết lời giới thiệu với nhan đề “Chiến
    tranh Đông Dương lần thứ hai - Quan sát và dự báo”.
    Bằng niềm tin từ những trải nghiệm của cuộc Chiến tranh Đông Dương lần
    thứ nhất, tức là cuộc Kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân
    Pháp mà G. Boudarel từng tham gia, ông đã phân tích và khẳng định cuộc
    Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam sẽ đi đến kết cục

    https://thuviensach.vn

    như trước là Mỹ không thể nào thắng được. Ông cũng tập trung phân tích
    vai trò và đường lối quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn ở cương
    vị Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang như cuộc chiến tranh lần trước sẽ làm
    cho các tướng lĩnh Mỹ phải thất bại bởi sức mạnh của một dân tộc có
    truyền thống chống ngoại xâm lại có một vị tướng tài và từng trải.
    Trong quan niệm của G. Boudarel, Võ Nguyên Giáp là sự kế thừa có chọn
    lựa những tư tưởng quân sự của các nhà cách mạng hiện đại như Lênin và
    Mao Trạch Đông cũng như các nhà chiến lược quân sự kinh điển như
    Clausewitz và Tôn Tử mặc dù khi trai trẻ, nhà giáo dạy lịch sử trẻ tuổi lại
    rất say mê Napoléon. Nhưng trên hết, Võ Nguyên Giáp là sự vận dụng
    trung thành với tư tưởng của Hồ Chí Minh cũng là của Đảng về Chiến tranh
    nhân dân Việt Nam mà cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất là một
    thành công. Vì thế, sự quan sát, phân tích và dự báo của G. Boudarel trở
    nên sắc sảo và thuyết phục...
    Do đó, khi G. Boudarel viết cuốn GIÁP như tiểu sử của một nhà quân sự
    lớn, bên cạnh những phân tích khoa học, tác giả còn gửi gắm vào đó nhiều
    tâm đắc đối với lịch sử Việt Nam hiện đại mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp
    là một trong những hiện thân tiêu biểu, cái lịch sử mà chính tác giả cuốn
    sách từng là “người trong cuộc”.
    Tôi đã có cơ hội gặp Georges Boudarel trong những năm tháng cuối cùng
    khi ông sống độc thân trong một ngôi nhà nhỏ ở Paris khiêm nhường nhưng
    chất chứa đầy sách và những tư liệu quý giá về lịch sử và văn hóaViệt
    Nam. Tôi và các bạn đồng nghiệp Việt Nam đã từng lên tiếng động viên,
    ủng hộ khi ông bị những kẻ cực đoan bôi nhọ. Vì thế, một thập niên sau
    ngày tác giả qua đời (2003), được giới thiệu cuốn sách viết về Đại tướng
    Võ Nguyên Giáp, vị Chủ tịch Danh dự của Hội Sử học Việt Nam của người
    đồng nghiệp đáng kính, Giáo sư sử học Georges Boudarel, đối với tôi là
    một vinh dự.
    Xin trân trọng giới thiệu với quý bạn đọc!

    https://thuviensach.vn

    Nhà sử học Dương Trung Quốc
    Hà Nội, tháng 11 năm 2012

    https://thuviensach.vn

    GIÁP của Georges Boudarel: Một
    cuốn sách nên đọc
    Năm 1975, chiến tranh kết thúc ở Việt Nam. Đó là cuộc chiến tranh dài
    nhất, làm thiệt mạng nhiều người nhất trong thế kỷ XX, được biết đến trên
    mọi châu lục, bên cạnh những cuộc chiến tranh khác. Chủ nghĩa thực dân
    Pháp, rồi chủ nghĩa đế quốc Mỹ lần lượt mưu toan ngăn chặn làn sóng cách
    mạng Việt Nam nhưng không thành công. Về phía Pháp, 9 tướng lĩnh cao
    cấp, trong đó có những vị có nhiều kinh nghiệm nhất (từ tướng Leclerc đến
    tướng Salan, không kể trước đó có d'Argenlieu, De Lattre...) lần lượt nắm
    quyền chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp. Trong giai đoạn chiến tranh Mỹ
    xâm lược Việt Nam, 4 tướng lĩnh, cũng là những người dày dạn kinh
    nghiệm đã lần lượt thay nhau, trong đó có tướng Westmoreland và Abrams.
    Tất cả đều xuất thân từ những trường quân sự nổi tiếng nhất phương Tây,
    như Saint Cyr, West Point...
    Đối mặt với họ, một người Việt Nam chưa từng ngồi trên ghế các trường
    quân sự lớn, nhưng đã tự học chiến lược, chiến thuật trên thực địa, đó là
    VÕ NGUYÊN GIÁP. Chính ông đã kể cho tôi trong những điều kiện nào
    ông đã tiếp cận nghệ thuật chiến tranh: Chúng tôi không qua một trường
    lớp quân sự nào. Khi còn ở Hà Nội năm 1940, các đồng chí của chúng tôi
    truyền đạt nghị quyết của Đảng về chuẩn bị đấu tranh vũ trang, tôi vào Thư
    viện Quốc gia tìm trong cuốn Đại từ điển Larousse những mục từ về kỹ
    thuật quân sự. Tôi nhớ đã đọc mục từ “lựu đạn”. Tôi cố gắng tìm hiểu
    nhưng khó quá, “lựu đạn tấn công”, “lựu đạn phòng ngự”, “hạt nổ”. Lúc đó
    tôi không hiểu thế nào là “bộ phận nổ”[1].
    [1] Alain Ruscio, Vo Nguyên Giap, une vie, Ed Les Indes Suivantes, 2010.
    Xem thêm Võ Nguyên Giáp, Một cuộc đời, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà
    Nội, 2011, tr. 50-51.

    https://thuviensach.vn

    Một mình chống lại khoảng 15 sĩ quan cao cấp được đào tạo bài bản tại các
    trường quân sự phương Tây! Cuộc đấu tranh xem ra không cân sức...
    Đúng vậy, nhưng Võ Nguyên Giáp đâu phải chỉ có một mình! Ông có nhân
    dân Việt Nam cùng kề vai sát cánh. Người Việt Nam giàu truyền thống đấu
    tranh chống xâm lược nước ngoài, nhiều thế kỷ chống kẻ thù phương Bắc,
    chống lại người Pháp trong thời kỳ chinh phục thuộc địa, sau đó từ năm
    1945, tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, hiện thân trong hình
    ảnh cao cả của Hồ Chí Minh. Với Bác Hồ, với Giáp và các bạn chiến đấu
    của mình, cụm từ “chiến tranh nhân dân” không ngừng trở thành khẩu hiệu
    động viên toàn thể dân tộc, được đem ra thực hiện hàng ngày. Ít nhà quan
    sát người Pháp trước năm 1946, và còn ít hơn nữa các nhà quan sát người
    Mỹ trước những năm 1960 có thể hiểu được điều này.
    Làm sao “một dân tộc nhỏ bé” của những người nông dân mà họ gọi một
    cách coi thường là “những người nhà quê” lại có thể đương đầu với vũ khí
    hiện đại? Làm sao những người du kích quần áo rách rưới đi dép cao su lại
    có thể đua tranh với các “ông lớn” da trắng mặc quân phục dã chiến, đi ủng
    cao và được trang bị đến tận răng?
    Một người bạn chiến đấu khác của Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng,
    cách đây không lâu đã kể cho tôi một giai thoại sau. Năm 1946 khi ông dẫn
    đầu Phái đoàn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến dự Hội nghị
    Fontainebleau, Max André, người dẫn đầu Phái đoàn Pháp, đã phát biểu với
    giọng trịch thượng: “Các ông hãy tỏ ra biết điều, hãy nhường Nam Kỳ cho
    chúng tôi. Các ông không muốn chiến tranh đấy chứ? Nếu chẳng may chiến
    tranh xảy ra, quân lính của các ông chỉ cầm cự được dăm tháng là cùng!”.
    Tôi còn nhớ khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng kể lại cho tôi câu chuyện đó,
    ông phá lên cười, một cái cười rất tự nhiên, cứ như ai nói đến chuyện đó
    cũng phải cười như thế!
    Thế mà thực dân Pháp đã bại trận. Nước Mỹ được trang bị vũ khí tối tân
    nhất thế giới cũng bại trận. Đương nhiên nhân dân Việt Nam phải trả giá

    https://thuviensach.vn

    bằng bao nỗi đau thương, mất mát! Nhưng thực tế còn kia: chiến thắng năm
    1975 đang và sẽ còn là một thời điểm quan trọng nhất của thế kỷ XX.
    Cuốn sách GIÁP bằng tiếng Pháp của Boudarel ra mắt độc giả từ năm
    1977, nghĩa là hai năm sau chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975 của Việt
    Nam. Có lẽ đây là điều trách cứ duy nhất chúng tôi có thể dành cho nhà sử
    học này. Bởi với kinh nghiệm, hiểu biết sâu sắc về con người, đất nước Việt
    Nam, “tổ quốc thứ hai” của ông, thông thạo tiếng Việt, đáng lẽ Boudarel
    phải viết sớm hơn thế, ngay từ trong chiến tranh mới phải. Bởi nếu thế, có
    lẽ ông sẽ giúp chúng ta hiểu được nguyên nhân nào đã khiến nhân dân Việt
    Nam giành được thắng lợi.
    Thực vậy, cuốn sách này có lợi thế lớn hơn nhiều so các cuốn sách khác đã
    viết về GIÁP sau đó: Không còn bám vào câu hỏi “Giáp và nhân dân Việt
    Nam đã giành được thắng lợi như thế nào?”, nhưng Boudarel đã giải thích
    “Tại sao” họ lại chiến thắng. Và muốn giải đáp được câu hỏi trên, phải tìm
    hiểu lịch sử đất nước này từ rất lâu trước thế kỷ XX, điều đó Boudarel đã
    nắm được và chuyển tải sang cuốn sách của ông.
    Tại Pháp, cuốn sách này đã không được hoan nghênh như đáng lẽ phải có.
    Tình hình biến chuyển nhanh và năm 1977, âm vang của chiến thắng 1975
    của Việt Nam đã bị những sự kiện quốc tế khác che phủ. Báo chí không nói
    nhiều đến công trình nghiên cứu mang tính đổi mới này. Hơn nữa, từ năm
    1978, bằng chiến dịch xấu xa vu cáo Việt Nam: với những “thuyền nhân”,
    rồi những khó khăn của đất nước ở biên giới Tây Nam (Khmers Đỏ đánh
    phá) và phía Bắc (Trung Quốc khiêu khích), phương Tây tưởng đã đến lúc
    phục thù. Chiến dịch vu cáo này đạt tới đỉnh điểm khi Việt Nam giúp giải
    phóng Campuchia, rồi tiếp đó là cuộc chiến tranh biên giới ở phía Bắc. Rất
    nhiều người Pháp chúng tôi trước sau kiên trì ủng hộ Việt Nam: đó là
    những người cộng sản, những lực lượng tiến bộ, cả những người Công giáo
    cánh tả, những hội viên Hội Hữu nghị Pháp-Việt. Georges Boudarel lúc đó

    https://thuviensach.vn

    tuy có cái nhìn phê phán “tổ quốc thứ hai” của ông nhưng vẫn đứng bên
    cạnh chúng tôi.
    Sau này người ta biết rằng bản thân Boudarel cũng là đối tượng của một
    chiến dịch khá mạnh gây thù hằn của những kẻ thua trận trong lịch sử,
    “những người cũ ở Đông Dương” và một phần cánh hữu của Pháp. Tôi
    thuộc về những người đã bênh vực Boudarel lúc đó. Tôi còn nhớ tôi đã gặp
    Boudarel trong ngôi nhà ông nghỉ hưu vào những năm cuối đời. Lúc đó sức
    khỏe ông đã sa sút lắm nhưng vẫn minh mẫn, luôn đọc rất nhiều, hay hỏi
    thăm tin tức về Việt Nam...
    Giờ đây cuốn sách được dịch sang tiếng Việt, quả là một việc làm đáng
    hoan nghênh. Bạn đọc Việt Nam ngày nay có thể tìm hiểu qua những trang
    sách hết sức phong phú nhưng cô đọng, cung cấp nhiều thông tin quý giá
    và bổ ích về cuộc đời của một trong những nhân vật vĩ đại của thời đại này,
    Đại tướng Tổng tư lệnh VÕ NGUYÊN GIÁP.
    Đây đồng thời cũng là một sự trân trọng của Việt Nam ngày nay dành cho
    một trong những người bạn trung thành sáng suốt nhưng có khi bị chỉ trích
    - Georges Boudarel.
    Alain Ruscio, nhà sử học Pháp
    Paris, tháng 11 năm 2012

    https://thuviensach.vn

    VÕ NGUYÊN GIÁP

    Một người tên là Văn
    Ngày 24 tháng 12 năm 1944, chiều muộn. Một nhóm 32 người men theo
    con đường trong một góc khuất vùng rừng núi tỉnh Cao Bằng, phía cực bắc
    của Việt Nam, ngay gần biên giới Việt - Trung. Đi cuối nhóm đầu tiên là
    trưởng nhóm, một người tên là Văn. Hoạt động ở vùng này từ ba năm nay,
    chưa bao giờ Văn có nhiều người dưới quyền đến thế, chưa bao giờ anh
    dám đi giữa ban ngày ban mặt với một nhóm người trên đường như thế.
    Khi quay lại để nhìn cả đội, cảnh hàng người chạy dọc theo những khúc
    quanh của con đường núi khiến anh ấm lòng. Đầu đội nón bọc vải, mình
    mặc quần áo chàm, chân quấn xà cạp, có thể khiến anh vui vui khi thấy
    mình trông thật buồn cười. Cả đội ăn mặc giống lính dõng.
    Mục tiêu của họ là gì? Đó là Phai Khắt, một đồn nhỏ. Từ hơn một năm nay,
    đồn có khoảng 10 lính dõng, do một viên thiếu tá người Pháp làm chỉ huy,
    có11 vài ngôi nhà tranh bên bờ suối, đối diện với một nương lúa nằm sát
    trong núi. Đây là một bản Việt Minh “hoàn toàn”: toàn bộ người dân, kể cả
    chức dịch đều “hoàn toàn” theo Việt Minh. Không có gì đáng lo. Người dân
    đã cung cấp mọi thông tin.
    17 giờ ngày 25 tháng 12, đội chìa “Giấy đi tuần” cho tên lính gác rồi đi
    thẳng vào đồn, theo sau Thu Sơn mặc bộ kaki đóng giả đội sếp.
    - Chúng tao đang đi tuần, quan đồn có nhà không? Thu Sơn hỏi tên lính
    gác, giọng hách dịch rồi đàng hoàng tiến vào đồn. Người của anh nhanh
    chóng tiếp cận nơi để súng, trong khi hai nhóm khác bao vây nhà bọn lính
    ở. Lúc đó, lính địch đứa đang ăn cơm trong nhà, đứa thu dọn quần áo, đứa
    quét dọn, sửa hàng rào. Thu Sơn hô lớn: “Rassemblement! Rassemblement
    général! Le chef de poste revient du district!” (Tập hợp! Tập hợp! Đồn

    https://thuviensach.vn

    trưởng về!). Một lát sau, khi toàn bộ lính đã tập hợp trước mặt, Thu Sơn đổi
    giọng:
    - Chúng tôi là quân cách mạng, anh em đầu hàng sẽ không giết ai hết, giơ
    tay lên!
    Bị bất ngờ, không kịp trở tay, toàn bộ lính địch buộc phải đầu hàng. Giữa
    lúc đó, người của tổ canh gác cách đồn 3 kilômét phóng ngựa tới báo tin
    tên đồn trưởng đang đi ngựa trở về, theo sau hắn có 10 tên lính không mang
    súng. Đội quyết định bắt tên đồn trưởng. Những tên lính bị bắt được đưa ra
    phía sau đồn, chiến lợi phẩm được thu dọn, rồi ai nấy vào vị trí. Văn, Thu
    Sơn và Hoàng Sâm nấp dưới mái hiên. Văn nói nhỏ: “Khi nó vào, tôi sẽ hô
    “Giơ tay lên”, nếu nó giơ tay các đồng chí lập tức xông ra bắt sống. Có lệnh
    mới được nổ súng”. Nhưng khi Văn vừa hô “Giơ tay lên” thì nhiều tiếng
    súng vang lên, cả người và ngựa đều bị tiêu diệt. Do quá căm thù, không
    kìm được nên một số đồng chí đã nổ súng ngay.
    Việc thu dọn chiến trường được tổ chức ngay với sự giúp đỡ của nhân dân.
    Tất cả những gì có thể sử dụng trong cuộc sống hàng ngày đều được để lại
    cho dân làng. Những vũ khí thu được được trang bị ngay cho đội, súng kíp
    giao lại cho du kích địa phương. Số súng này đủ trang bị cho nửa trung đội,
    nhưng thu được rất ít đạn.
    Nửa đêm hôm ấy, đội dừng chân ở một bản cách đó 15 kilômét để kiểm
    điểm rút kinh nghiệm trận đánh vừa qua. Tới 3 giờ sáng ngày 26 tháng 12,
    cả đội tiếp tục hành quân đến Nà Ngần, một ngôi nhà được biến thành đồn
    lính, có 22 lính khố đỏ, do hai sĩ quan người Pháp chỉ huy, nằm cách đồn
    Phai Khắt 25 kilômét. Đội hy vọng sẽ thu được đạn dược ở đây. Sáng sớm,
    đội dừng lại. Cả đội thay quần áo, cải trang bằng những bộ quần áo lính
    dõng, lính tập mới thu được ở Phai Khắt, giả làm một toán lính dõng, lính
    khố đỏ đang dẫn giải “ba cộng sản” bị trói. Kịch

    https://thuviensach.vn

    bản có thay đổi. Khi đến cổng, Thu Sơn lại chìa giấy cho lính gác xem,
    trong khi một đồng chí khác đi sau rút thuốc lá ra mời và châm lửa cho bọn
    gác. Tò mò, lính gác trên chòi canh liếc nhìn:
    - Lại bắt được cộng sản người Mán à?
    Trong khi cuộc chuyện trò diễn ra với nhóm thứ hai, thì Thu Sơn đi thẳng
    vào trong đồn. Lúc này đồn do một tên đội người Việt, nổi tiếng phản động,
    chỉ huy thay cho hai sĩ quan lên tỉnh. Cũng như ở Phai Khắt, bọn lính đang
    làm nhiều việc khác nhau, một số thu dọn chăn màn, một số đi rửa mặt. Tên
    đội ngồi ở bàn làm việc; vũ khí vẫn còn trên giá để súng, trong đó bốn khẩu
    đã bị Việt Minh lấy ngay ở lối vào. Thu Sơn chĩa khẩu tiểu liên vào tên đội.
    Bất ngờ tên đội định đặt tay vào khẩu súng của hắn đặt trên bàn, nhưng
    trước khi hắn có thời gian làm việc đó thì đã bị hạ. Nhóm đang nói chuyện
    ở lối vào vô hiệu lính gác, bọn lính trong đồn rất hoảng hốt. Mọi việc diễn
    ra rất nhanh. Ba tên lính liều chết chống cự đều bị tiêu diệt. Ba du kích
    người Tày được cử đến giải thích. Tù binh rất ngạc nhiên khi thấy các nữ
    chiến sĩ vai mang súng, lưng đeo đạn, nói năng lưu loát, giải thích cho họ
    hiểu chủ trương chính sách của Việt Minh. Đa phần tù binh xin được trở về
    quê, họ được trả lại quân trang.
    Hai mươi phút sau, đội lại ra đi sau một cuộc giải thích nhanh cho dân làng
    mà họ phải ngăn không cho đi theo đội.
    Đến tối, toàn đội vượt qua quốc lộ 3A (Cao Bằng - Nguyên Bình) và đi vào
    vùng rừng núi đá vôi Gia Bằng. Cả ngày, anh em chỉ ăn một bữa cơm,
    nhưng vẫn cố gắng đi liên tục không nghỉ. Một đội viên đã tổng kết thành
    một câu hài hước: “Quân cách mạng chúng tôi ăn thì mỗi ngày một bữa,
    đánh thì mỗi ngày hai trận”. Đội đi cả đêm trong rừng, đến tận Lũng Dẻ,
    một bản của đồng bào Mông, giữa khu du kích Thiện Thuật (tên của một
    chí sĩ kháng Pháp ở đồng bằng sông Hồng khi Pháp chiếm Bắc Kỳ trong
    những năm 1880). Khu du kích nằm trong một lòng chảo khá rộng, bao
    quanh là những vách đá tai mèo hiểm trở, một thành trì tự nhiên thực sự.

    https://thuviensach.vn

    Trong mười ngày tại Lũng Dẻ, cả đội nghỉ ngơi, chấn chỉnh, củng cố lực
    lượng và huấn luyện thêm. Khi xuất phát, đội được phát triển thành đại đội.
    Một bộ phận nhỏ do Hoàng Văn Thái chỉ huy, phụ trách công tác tham mưu
    - tình báo, đi xuống phía nam hoạt động tuyên truyền, mở rộng cơ sở. Đại
    bộ phận, do Văn chỉ huy, đi lên phía bắc, hướng về đồn Đồng Mu, phải đi
    qua Trung Quốc, gần Bảo Lạc, cách đường ở phía bắc Cao Bằng 100
    kilômét, trong đó 60 kilômét là đường mòn hẹp và hiểm trở. Hoạt động của
    Việt Minh còn yếu trong vùng địa hình hiểm trở lởm chởm đá tai mèo, rừng
    núi lô nhô, giống như một vịnh Hạ Long trên cạn với đỉnh núi Pia Oắc cao
    1931 mét ở phía nam. Không thể đi theo đường dễ, cũng không đi được vào
    ban ngày, cả đội đi liên tục, theo nhiều điểm, có khi lại phải đi xuống thung
    lũng và im lặng vượt qua những điểm gác của địch, trong tiếng trống của
    lính gác đêm. Đồn Đồng Mu được xây dựng rất kiên cố trên một ngọn đồi
    cao vì phải thường xuyên đối phó với bọn phỉ từ phía Trung Quốc. Quân
    lính trong đồn có hơn 40 lính khố đỏ, do ba tên sĩ quan Pháp chỉ huy. Đồn
    có nhiều lô cốt, tường dày có lỗ châu mai, giao thông hào và dây thép gai
    bao bọc xung quanh. Không thể sử dụng cách cải trang đột nhập đồn, chỉ
    còn cách vượt tường đột nhập và kêu gọi quân bên trong đầu hàng. Đội
    chia thành bốn tổ, xuất phát trong đêm, leo lên đồi và vượt hàng rào dây
    thép gai. Đội đang đột nhập thì bị địch hỏi:
    - Ai?
    Tình huống này nằm ngoài dự kiến.
    - Chúng tôi là Việt Minh đến lấy súng của Tây, không đánh các anh em.
    Một quả lựu đạn và một loạt đạn nổ vang. Từ 23 giờ đến 2 giờ sáng, bên
    trong đồn, hai đội đã vào được và bắn nhau với địch dữ dội. Việt Minh vừa
    bắn vừa hát để động viên khí thế chiến đấu và báo hiệu cho các chiến sĩ liên
    lạc. Tuy nhiên, họ lại làm lộ vị trí chiến đấu, khiến quân địch tập trung hỏa
    lực bắn tới. Đến rạng sáng, ban chỉ huy hạ lệnh rút khỏi đồn. Đội mất một

    https://thuviensach.vn

    tiểu đội trưởng, thu năm súng trường mousqueton và một số đạn, bắt bốn tù
    binh. Các tù binh này khai đồn đã trong tình trạng báo động.
    Một cuộc hành quân mới lại bắt đầu, mọi người vừa đi vừa nghỉ dọc đường
    và ăn cơm nắm. Sau khi nghỉ ngơi, đội cẩn thận xóa mọi dấu vết nhỏ nhất,
    từ những chiếc lá gói thức ăn đến hạt cơm rơi xuống đất vì chúng có thể để
    lộ dấu vết. Rồi cả đội lại lên đường. Đến vùng an toàn hơn, các chiến sĩ tản
    ra thành những đội nhỏ đi vào bản để tuyên truyền. Tại Nà Ngần, họ có
    được thành quả đầu tiên: thu 16 súng trường và nhiều tù binh. Nhưng bây
    giờ, việc cần ưu tiên là tuyên truyền. Hồ Chí Minh đã nhắc đi nhắc lại điều
    này: “Chính trị trọng hơn quân sự, vũ trang tuyên truyền trọng hơn tác
    chiến”.
    “Một chiến thắng chỉ được 100 người biết sẽ chỉ tác động đến 100 người;
    nhưng nếu ta cho 1000 người biết, thì cũng như ta đã mang về 10 chiến
    thắng khác hoặc một chiến thắng lớn hơn 10 lần”. Người sau này viết lên
    những dòng này chính là Văn, mà Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng
    quân của ông vừa có những trận tấn công đầu tiên. Sáu tháng sau, ông được
    cả thế giới biết đến với tên thật Võ Nguyên Giáp.

    https://thuviensach.vn

    Chàng sinh viên, thầy giáo dạy sử và
    người chiến sĩ cách mạng
    Sinh ở An Xá, tỉnh Quảng Bình vào năm 1910[1], Giáp lúc nhỏ sống ở một
    vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển miền Trung phía bắc vĩ tuyến 17. Nơi
    đây từ thế kỷ XI là bàn đạp của cuộc nam tiến không gì ngăn nổi của dân
    tộc Việt Nam. Ông đã lớn lên ở một vùng đất hẹp vào bậc nhất của Việt
    Nam, có những cánh đồng lúa nước kẹp giữa một bên là những cồn cát
    trắng xóa mênh mông chạy dọc bờ biển và bên kia là những mỏm núi xanh
    trơ trụi trong dãy Hoành Sơn uốn lượn giữa những cánh rừng rậm, nơi đây
    vào mùa hè những cơn gió tây khô rát gọi là gió Lào từ lục địa Nam Á
    nóng bỏng thổi ra biển.
    [1] Theo xác nhận của gia đình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày
    25/8/1911. (Ghi chú của Văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp - VPĐT).

    Cụ bà thân sinh, những hôm không bận việc đồng áng thì cặm cụi bên
    khung cửi. Còn cụ ông là một nông dân có học thức tự cày cấy ruộng nhà,
    và truyền lại cho cậu bé Giáp chữ nghĩa, vốn tri thức và tình yêu quê hương
    đất nước. Đối với những ai hiểu biết thì mỗi tấc đất ở đây đều mang một
    chứng tích lịch sử. Phía bắc tỉnh là động Phong Nha sâu hút, thu hút nhiều
    khách hành hương đến cầu nguyện trước một bàn thờ còn sót lại của người
    Chăm, bên cạnh những nhũ đá lung linh dưới ánh sáng khi mờ khi tỏ từ cửa
    động rọi vào. Trên bờ biển, Đèo Ngang hùng vĩ nằm án ngữ biển, nơi đây
    Bà Huyện Thanh Quan, nữ thi sĩ của thế kỷ XVIII từng ca ngợi vào một
    buổi chiều tà: “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc”. Cậu bé Giáp tuy ở tuổi
    ấu thơ cũng đã hiểu rằng nữ tác giả khi nói đến con cuốc cuốc là nói đến
    non sông đất nước vì tiếng con chim cuốc theo âm Hán Việt đồng âm với
    tiếng quốc có nghĩa là đất nước quê hương.

    https://thuviensach.vn

    Cách làng An Xá một quãng ngắn, còn sót lại di tích của thành lũy do nhà
    quân sự kiêm thầy giáo dạy chữ Nho, Đào Duy Từ, tác giả cuốn Hổ trướng
    khu cơ (Bí quyết phép dùng binh) - một cuốn sách giáo khoa dạy nghệ
    thuật quân sự cho các tướng lĩnh thời bấy giờ - xây dựng vào cuối thế kỷ
    XVII được người dân vùng này truyền tụng là lũy Thầy. 25 năm trước khi
    cậu bé Giáp ra đời, toàn bộ vùng đất Quảng Bình này từng là địa bàn hoạt
    động của nghĩa quân Cần Vương, hưởng ứng lời kêu gọi chống Pháp của
    vua Hàm Nghi. Ở phía bắc, trong tỉnh kế bên cũng có một văn thân là cụ
    Phan Đình Phùng đã xây dựng căn cứ kháng chiến trên núi Vụ Quang trong
    mười năm và đến năm 1910, một toán nghĩa quân còn về đồng bằng quyên
    góp lương thực và gây quỹ ủng hộ kháng chiến chống Tây. Nhưng sau năm
    1919, dường như quá khứ vẻ vang ấy đã vĩnh viễn hết thời, không có gì
    cưỡng lại được. Người ta bước vào một thời đại mới, bút lông mềm mại đã
    nhường chỗ cho bút sắt vừa viết vừa phát ra tiếng cót két của hãng SergentMajor từ phương Tây đem tới.
    Năm 1923, cậu bé Giáp tạm biệt cha mẹ già vào Huế, cố đô của triều đình
    nhà Nguyễn xưa, cách nhà 150 kilômét, để học ở trường Quốc học. Vào
    thời đó, các trường học từ bậc trung học trở lên đều đặt ở các thành phố, thị
    xã và đô thị lớn, và được “chính trị hóa” một cách khác thường. Học sinh
    không ồn ào, hiếu động mà rất chăm chỉ đèn sách. Ở lớp, các cô cậu im
    lặng, ngồi nghiêm chỉnh nghe lời thầy giảng hay ghi ghi chép chép, chỉ còn
    nghe được tiếng ruồi bay qua bay lại. Một số cố học để sau này ra làm
    quan. Nhiều người khác cốt sao sau này nên người, để “cứu nước, đánh
    giặc ngoại xâm”, “canh tân đất nước”. Những ý nghĩ tốt đẹp này ám ảnh
    tâm trí những con người trẻ tuổi. Đi đâu cũng thấy những nhóm nhỏ ra đời
    mà trong buổi lễ gia nhập, các cậu “thề đấu tranh, hy sinh đến cùng cho sự
    nghiệp”.
    Người ta xì xào, bàn tán về con người có sức hấp dẫn kỳ lạ mang tên
    Nguyễn Ái Quốc (sau này đổi tên là Hồ Chí Minh), tác giả áng văn đả kích
    nổi tiếng có tựa đề: Bản án chế độ thực dân Pháp, cùng với những người

    https://thuviensach.vn

    cùng chí hướng đang hoạt động tại nước Nga Xô viết. Người ta đưa cho
    Giáp một bản và anh đã đọc say sưa. Báo chí thực dân đã dành toàn bộ
    phương tiện tuyên truyền tốt nhất để vu cáo những người Bôn-sê-vích,
    thậm chí có những người có xu hướng ôn hòa, chỉ đưa ra những đề nghị cải
    cách xã hội khiêm tốn nhất cũng bị chúng gán cho cái tên Bôn-sê-vích.
    Anh học trò trung học Võ Nguyên Giáp đặc biệt say mê các môn lịch sử,
    địa lý và vật lý. Anh chỉ rời sách vở khi bận đến dự những cuộc thảo luận
    sôi nổi về các đề tài liên quan đến lịch sử nước nhà. Khi 14, 15 tuổi đời anh
    đã có những bước ngoặt có tính quyết định cả cuộc đời anh sau này.
    Năm 1924, Toàn quyền Đông Dương Merlin tích cực phá hủy những gì mà
    những người tiền nhiệm của ông là Albert Sarraut và Maurice Long đã
    bước đầu xây dựng cho cái gọi là tự do, bác ái ở Đông Dương. Merlin chủ
    trương thanh niên Đông Dương chỉ nên học đến bậc trung học rồi đi làm,
    không nên học lên đại học, nhất là sang Pháp du học vì ông ta cho rằng họ
    sang chính quốc sẽ bị ảnh hưởng chủ nghĩa nhân quyền tự do của nước
    Pháp, sẽ trở thành những phần tử chống Pháp. Tuy nhiên, vào năm 1925,
    khoảng 400 thanh niên Việt đi lén trên các tàu biển đã tới Marseille (Pháp).
    Không ý thức được các mối hiểm nguy đó, Phủ Toàn quyền Đông Dương
    lợi dụng lúc vua Khải Định băng hà đã buộc Hội đồng Phụ Chính thông
    qua trong phiên họp ngày 6 tháng 11 năm 1925 một đạo dụ thu hẹp quyền
    hành của nhà vua nay chỉ giới hạn trong những chức trách thuần túy lễ
    nghi, ban sắc cho các thần thành hoàng làng. Ngay cả việc tuyển dụng và
    bổ nhiệm quan chức giúp việc cho nhà vua cũng thuộc quyền của Khâm sứ
    Pháp. Chính quyền thuộc địa đã nhanh chóng cắt gọn cái cành cây mỏng
    manh, vốn vẫn là chỗ dựa để cai trị dân bản xứ, như vậy sự sụp đổ của chế
    độ thực dân chẳng còn bao xa.
    Trong những điều kiện ấy, có gì đáng ngạc nhiên khi người ta ngày càng
    hướng về “những người ở Pháp về” như Phan Văn Trường, Nguyễn An
    Ninh, những nhà luận chiến nảy lửa ở Sài Gòn bắt đầu truyền bá những tư

    https://thuviensach.vn

    tưởng lật đổ do những cây bút già dặn viết trên các tờ báo bằng tiếng Pháp.
    Năm 1925, một nhà văn có tên là Malraux đã phản ánh tình trạng này trên
    tạp chí Indochine (Đông Dương): “Một tin đồn lan truyền khắp nơi trong
    xứ An Nam về mối lo ngại rằng mọi sự căm giận, oán thù tản mát lâu nay
    đã được tập hợp lại để có thể trở thành một sự bùng nổ, nếu các ngài không
    đề phòng, khác nào cánh đồng vào vụ gặt.”
    Thực vậy, một hành động mạnh mẽ vừa xuất hiện lại. Ngày 24 tháng 6 năm
    1924, vào 8 giờ 30 phút tối tại tô giới Anh - Pháp ở Quảng Châu, người ta
    tổ chức ở khách sạn Victoria tiệc mừng Toàn quyền Merlin vừa kết thúc
    chuyến đi thăm các nước Đông Á...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG PTDTNT TỈNH !